- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 157 Bộ luật Dân sự; Điều 158 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN ́ TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 46/2017/DS-PT Ngày 22 - 9 - 2017 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thuyên
Bà Phạm Thị Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Pha ̣m Duy Cườ ng – Thư ký Tòa án tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắ k Nông tham gia phiên tòa: bà Hồ Thi ̣ Hương Lan – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 tháng 7, ngày 16 tháng 8 và ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2017/TLPT-DS ngày 12/5/2017 về tranh chấp quyền sử du ̣ng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 31/3/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2017/QĐ-PT ngày 10/7/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị D - có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: NLQ1 ( theo giấy ủy quyền ngày 22/8/2017)- có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn 10, xã N, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông
- Bị đơn: Ông Lâm Văn T - có mặt
Đi ̣a chi: Thôn 11, xã N, huyê ̣̉
n Đ, tỉnh Đắk Nông
- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
NLQ1 – có mặt
Đi ̣a chi: Thôn 10, xã N, huyê ̣̉
n Đ, tỉnh Đắk Nông
NLQ2 – có mặt
Đi ̣a chi: Thôn 11, xã N, huyê ̣̉
n Đ, tỉnh Đắk Nông
NLQ3 – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Đi ̣a chi: Khổ
́i 11, thị trấn Đ, huyện Đ1, tỉnh Đắk Nông
NLQ4 – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Đi ̣a chi: Xóm C, xã N, huyê ̣̉
n N, tỉnh Nghệ An
- Ngườ i là m chứng:
NLC1 – vắng mặt
NLC2 – có mặt
NLC3 – vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn 11, xã N, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông
- Ngườ i khá ng cá o: Bà Đặng Thị D
NỘI DUNG VỤ Á N:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/4/2016 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án
nguyên đơn bà Đặng Thị D trình bày: Ngày 24/12/2003 gia đinh bà có mua mô ̣t
̀ thử a đất rẫy của NLQ3, hai bên có làm giấy viết tay không có công chứ ng , chứ ng thực, diê ̣n tich 1400 cây cà phê và 09 sào đất trống, trong đó có 16.200m2 đa đượ̃
c
́ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số V 140230 ngày 25/12/2002 mang tên NLQ4 (NLQ4 là em trai NLQ3). Khi chuyển nhượng các bên không tiến hành giao đất trên thực đi ̣a và ký giáp ranh vớ i các hô ̣ liền kề. Sau khi đă ̣t co ̣c gia đinh bà vào
̀ nhâ ̣n chăm sóc rẫy cà phê thì ông Lâm Văn T chỉ mốc và nói đất của gia đình bà đến vị trí mốc ông T chỉ. Do không xác đi ̣nh được mốc ranh giớ i nên làm theo mốc ông T chỉ, và đợi khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ xác định lại ranh giớ i. Năm 2013 gia đinh bà trả đủ tiền, NLQ3 và gia đình bà làm thủ tục sang
̀ tên, sau khi nhâ ̣n được giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất gia đình bà phát hiện ra ông Lâm Văn T đa lấn chiếm cũ
̉a gia đinh bà khoảng 40m mă ̣t đườ ng , chiều dài
̀
xuống hết rẫy. Thờ i điểm nhâ ̣n chuyền nhượng diê ̣n tich đất tranh chấp là đất trắng
́ không có cây trồ ng gi, năm 2003 ông T cho ngườ i khác mượn trồng màu , hiê ̣n ta ̣i
̀ ông T cho con gái mượn trồng khoai lang còn phần phia dướ i ông T trồng tiêu và
́ cà phê. Khi nhâ ̣n chuyển nhượng giữa đất gia đinh bà mua và đất ông T không có
̀
ranh giớ i gi, khoảng 4 năm trướ c ông T trong hàng Sao vào mốc ranh giới mà ông
̀ T chỉ cho gia đình bà trướ c đây. Khoảng 03 năm trướ c, do ông T phun thuốc diê ̣t cỏ sợ ảnh hưởng đ ến cây trồng nên gia đình bà có trồng hàng dâm bu ̣t xen giữa hàng Sao ông T trồng trướ c đây, nhưng đây không phải là ranh giớ i giữa hai nhà . Bà yêu cầu buộc ông T trả lại phần đất lấn chiếm năm trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất của gia đình bà , diê ̣n tich đất lấn chiếm theo kết quả xem xét
́
thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ.
Quá trình tố tụng tại Tòa án ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan NLQ1 thống nhất vớ i lờ i khai của vợ ông là bà D.
Quá trình tố tụng tại Tò a án bi ̣ đơn ông Lâm Văn T trình bày: Nguồn gốc diê ̣n tich đất tranh chấp là gia đinh ông khai phá từ năm 1996. Năm 2002 gia đinh
́
̀
̀ ông được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất nhưng đối vớ i diê ̣n tích đất tranh chấp thi gia đinh ông chưa được cấp . Ông đa lam đơn lên Ủ y ban nhân dân xa yêu
̀
̀
̃ ̀
̃ cầu giải thich nguyên nhân nhưng chưa được giải quyết . Diê ̣n tich đất này ông sử
́
́ dụng ổn định vừa trồng hòa màu, vừ a trồng tiêu từ năm 1996 đến nay. Đối với yêu cầu của bà D ông không đồng ý vi , khi bà D nhâ ̣n chuyển nhượng của NLQ3
̀
không mờ i những ngườ i có đất liền kề làm chứ ng và nhâ ̣n ranh giớ i . Hàng Sao làm ranh giớ i hiê ̣n ta ̣i là do ông trồng nhưng không nhớ rõ thờ i gian , khi đến canh tác gia đinh bà D còn trồng hàng dâm bụt vào giữa hàng Sao làm ranh giớ i . Quá trình
̀ canh tác hơn 10 không hề xảy ra tranh chấp.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan NLQ2 thống nhất vớ i ý kiến chồng bà là ông T.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan NLQ3 trình bày: NLQ3 thống nhất vớ i lờ i trinh bày của bà D về quá trinh chuyển nhượng đất và
̀
̀ trình bày thêm: Thử a đất ông bán cho bà D là của ông cho em trai là NLQ4 đứ ng tên, ông là ngườ i trực tiếp kê khai cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Diê ̣n tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính xác, còn diện tích đó có phù hợp vớ i hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất không thi ông không biết vi ông không trực tiếp
̀
̀ canh tác sử du ̣ng . Khi chuyển nhượng thi giữa đất ông bán cho bà D và đất gia
̀
đinh ông T không có ranh giớ i gi, chỉ là đất trống . Không có hàng Sao hay hàng ̀
̀ dâm bu ̣t nào. Viê ̣c tranh chấp giữa bà D và ông T ông không biết, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan NLQ4 trình bày: Thử a đất được cấp giấy chưng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số V
140230 do Ủ y ban
́ nhân dân huyê ̣n Đ cấp ngày 25/12/2002 là do ông khai hoang phục hó a. Ông canh tác từ năm 1997 đến năm 2000 sau đó ông về quê và nhờ anh trai là NLQ3 trông coi. Năm 2003 ông nhờ NLQ3 bán diện tích đất trên cho NLQ1. Thử a đất của ông có hiện trạng như sau: Từ đườ ng đi giáp ông Lê Văn Đ đến giáp đất ông Lâm Văn T là 44 - 45 hàng và phê, từ dướ i lên từ hàng mít là 35 đến 37 hàng cà phê và đất trống ở trên cùng. Tính từ hàng mít đầu và 03 cây xoài đi thẳng lên đến đường nội thôn là đườ ng thẳng hàng , còn phần đất của tôi th ì tôi đa trỗ ̀ng hết cà phê phần dướ i, con phần đất trống và đườ ng đi là của ông Lâm Văn T không phải đất của tôi. Theo đườ ng nô ̣i thôn có chiều dài lúc đó khoảng 150m đến 160m (chiều dài). Phần đất của tôi đã trồng cà phê còn phần đất trống tiếp theo là đường đi là đất của ông Lâm Văn T. Nay giữa bà D NLQ1, ông T xảy ra tranh chấp ông không có ý kiến gi và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
̀
Tại Bản án sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 31/3/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông áp dụng các Điều 147, Điều 157 và Điều 158 Bộ Luật dân sự 2005. Khoản 1 Điều 203 Luâ ̣t đất đai ; Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lê ̣ phi Tòa án,Tuyên xử:
́
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị D về viê ̣c bu ộc ông Lâm Văn T phải trả lại khoảng 5000m2 đất năm trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa đượ̃
c cấp cho bà D NLQ1 số BL946430, ngày 22/7/2013.
Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phi đi ̣nh giá tài sản và xem xét
́ thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/4/2017 bà D làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm . Bà cho rằng: Tòa án sơ thẩm chưa giải quyết thỏa đáng, chưa bảo vê ̣ quyền và lợi ich pháp
́ của bà đã được chứng minh và công nhận tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đa đượ̃
c cấp cho gia đinh bà.
̀
Tại phiên tòa ngày 26 tháng 7 năm 2017: Nguyên đơn bà Đặng Thị D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn NLQ1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ yêu cầu kháng cáo. Bà D đề nghị Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lại diện tích đất tranh chấp. Ngày 27/7/2017 bà Đặng Thị D có đơn xin rút lại yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2017.
Tại phiên tòa ngày 16/8/2017 bà Đặng Thị D tiếp tục có đơn đề nghị Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa và tiến hành đo đạc lại diện tích đất tranh chấp.
Tại phiên tòa ngày 22/9/2017, sau khi có kết quả đo đạc theo yêu cầu của bà D thì bà D và người đại diện theo ủy quyền là NLQ1 vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Bị đơn ông Lâm Văn T đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm để bảo vệ quyền lời của gia đình ông.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan NLQ2 nhất trí với trình bày của ông T và không có ý kiến gì khác.
Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Đẳ
́k Nông phát biểu ý kiến:
- Đơn kháng cáo của bị đơn bà D làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc thu thập, đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm là chưa đầy đủ toàn diện, tại cấp phúc thẩm không bổ sung được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 hủy bản án sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 31/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, chuyển hồ sơ cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Đặng Thị D kháng cáo trong thời hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là đúng pháp luật.
Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra ta ̣i phiên tòa, kết quả đo đạc diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:
[2] Bà Đặng Thị D và NLQ1 cho rằng nguồn gốc diê ̣n tich đất hiê ̣n nay đang
́ tranh chấp nằm trong phần diê ̣n tich mà bà D NLQ1 mua la ̣i của NLQ4 (NLQ3 là
́ ngườ i đứ ng ra bán ) từ năm 2003. Khi mua do chưa trả đủ tiền nên ông bà chưa được nhâ ̣n giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Khi đến canh tác ông T là người sử dụng đất bên cạn h là ngườ i chi mổ ́c ranh giớ i giữa hai nhà , do không xác đi ̣nh được ranh giớ i nên ông T chỉ đến đâu bà D NLQ1 sử du ̣ng đến đó . Đến năm 2013 sau khi nhâ ̣n được giấy chứ ng nhâ ̣n bà D NLQ1 mớ i phát hiê ̣n diê ̣n tich đất ông bà
́ đang sử du ̣ng bi ̣ thiếu so vớ i giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Ông bà xác đi ̣nh diê ̣n tich đất bi ̣ thiếu hiê ̣n ông T đang lấn chiếm, sử du ̣ng. Tuy nhiên, quá trình giải
́ quyết vu ̣ án NLQ4 là chủ đất cũ có giấy xác nhận (BL192-193) với nô ̣i dung năm 2003 ông có nhờ NLQ3 (anh ruô ̣t) bán cho NLQ1 mô ̣t thử a đất rẫy có hiê ̣n tra ̣ng như sau: “Từ đườ ng đi giá p ông Lê Văn Đ đến giáp đất ông Lâm Văn T là 44 - 45 hàng và phê, từ dướ i lên từ hà ng mit là 35 đến 37 hàng cà phê và đất trống ở trên
́
cùng. Tính từ hàng mít đầu và 03 cây xoà i đi thẳng lê n đến đường nội thôn là đườ ng thẳng hà ng cò n phần đất của tôi thi tôi đã trồng hết cà phê phần dướ i, phần đất trống và đườ ng đi là của ông Lâm Văn T không phải đất của tôi . Theo đườ ng nội thôn có chiều dà i lú c đó khoảng 150m đến 160m (chiều dà i). Phần đất của tôi đã trồng cà phê còn phần đất trống tiếp theo là đườ ng đi là đất của ông Lâm Văn T”. Như vâ ̣y, lờ i khai của NLQ4 chiều ngang giáp đườ ng đất liên thôn dài khoảng 150m đến 160m là phù hợp vớ i diê ̣n tich đất thực tế bà D NLQ1 đang sử du ̣ng theo
́
biên bản xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ (BL136-137) có chiều dài 175.5m. Điều này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng là NLC1, NLC2, NLC3 cho rằng ranh giớ i giữa diê ̣n tich đất bà D NLQ1 đang sử du ̣ng là đúng vớ i hiê ̣n tra ̣ng
́ mà NLQ4 sử du ̣ng trướ c đây. Mă ̣t khác, bà D NLQ1 cho rằng không biết chinh xác
́ ranh giớ i đất giữa đất nhà ông bà và đất của ông T nên ông T cắm mốc đế n đâu ông bà sử du ̣ng đến đó . Nhưng ta ̣i giấy chuyển nhượng rẫy cà phê đề ngày 24/12/2003 (BL19) có nội dung: “sau khi xem xé t rẫy thực tế và đã thỏa thuận hai bên đi đến thống nhất . NLQ3 thị trấn Đ có chuyển nhượng cho NLQ1 thôn 10, Đ, 01 rẫy cà phê diê ̣n tich 1400cây cà phê , 09 sào đất trống. Phía nam giáp đường ,
́ phía đông giáp rẫy anh Đ , phía bắc, phía tây giáp rẫy anh T ”. Như vâ ̣y, tại thời điểm chuyển nhượng bà D NLQ1 đa xem xẽ
́t rẫy trên thực đi ̣a và xác đi ̣nh được vi ̣ trí, tứ câ ̣n của thử a đất.
[3] Bên ca ̣nh đó , ông T đa sữ ̉ du ̣ng đất ổn đi ̣nh từ năm 1996 đến nay, ông T đa trỗ ̀ng cây công nghiê ̣p dài ngày (cà phê , tiêu) trên phần đất hiê ̣n đang tranh chấp. Năm 2003 bà D NLQ1 đến sử dụng đất, giữa gia đinh ông T và gia đình bà D
̀ không xảy ra tranh chấp gi . Quá trình canh tác ông T có trồng một hàng Sao làm
̀ ranh giớ i giữa hai nhà , bà D NLQ1 không phản đối m à đồng thời còn trồng thêm hàng dâm bụt xen kẽ giữa hàng Sao ông T trồng trướ c đó để làm ranh giớ i giữa hai nhà. Như vâ ̣y, có thể khẳng đi ̣nh các bên đa sữ ̉ du ̣ng đất ổn đi ̣nh và đa xã ́c đi ̣nh ranh giớ i mô ̣t cách rõ ràng, không có tranh chấp gì xảy ra.
[4] Xét quan điểm của Đại diện Viê ̣n kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì cho rằng việc thu thập chứng cứ chứng minh của cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào các tại liệu, chứng cứ có trong hồ sở vụ án đã được cấp sơ thẩm thu thập và kết quả đo đạc theo yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm và công văn số 264/TTĐĐ-KHKT ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm đo đạc và tư vấn tài nguyên môi trường – Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đắk Nông đã có cơ sở để giải quyết vụ án. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Từ phân tích và nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà D là không có căn cứ nên không chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Đẳ
́k Nông không có căn cứ nên không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí đo đạc: Do kháng cáo không được chấp nhận , áp dụng khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu
, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án. Buô ̣c bà D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà đã nộp. Bà Đặng Thị D phải chịu 11.472.000đ (mười một triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền chi phí đo đạc, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng bà D đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2017/DS-ST ngày 31/3/2017 của Tòa án nhân dâ n huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí đo đạc: Bà Đặng Thị D phải nô ̣p 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà D đã nộp, theo biên lai số 0004100 ngày 17/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Bà Đặng Thị D phải chịu 11.472.000đ (mười một triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền chi phí đo đạc, được trừ vào số tiền tạm ứng bà D đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. HCM; ̉ - VKSND tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đ; - THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THÂM PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Quốc Hương |