vanban.org

Bản án 459/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái X.

Sửa một phần về hình phạt do khách quan, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2025/HS-ST ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2). Tội danh và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái X phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái X.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 459/2025/HS-PT
Ngày 21 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Nam Phương;

Bà Đinh Thị Kiều Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái X đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2025/HS-ST ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2).

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thái X, sinh năm 1983 tại Nghệ An; Căn cước công dân số: 04008303022X; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An (nay là xã N, tỉnh Nghệ An); nơi cư trú (có đăng ký tạm trú): Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái B và bà Nguyễn Thị Q; có vợ tên Nguyễn Thị N và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 29/QĐ-XPHC ngày 25-01-2024, bị Trưởng Công an xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; đã nộp phạt ngày 26-01-2024; hiện nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 201/2025/LCĐKNCT ngày 29-7-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có người làm chứng tham gia tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 14 giờ ngày 04-7-2024, tại bãi xe ô tô “Đặng Đình T” thuộc ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, do Phạm Đắc H, sinh năm 1986 làm chủ; Công an xã L bắt quả tang Phạm Quang H1, Trần Hoàng L, Nguyễn Thái X và Dương Ngọc P, đều là tài xế lái xe ô tô, đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức lắc bầu cua. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 550.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của Hinh số tiền 650.000 đồng, thu giữ trên người X số tiền 50.000 đồng, trên người L số tiền 100.000 đồng và trên người P số tiền 150.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Trong thời gian trú mưa và chờ sửa chữa xe ô tô tại bãi xe trên, H1 thấy 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua trong góc tường nhà của bãi xe, nên H1 rủ L, X và Phú chơi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền thì cả 03 đồng ý.

Khi đánh bạc, H1 mang theo số tiền 650.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, không thắng không thua; X mang theo số tiền 350.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, thua 300.000 đồng; L mang theo số tiền 250.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, thua 150.000 đồng; P mang theo số tiền 250.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, thua 100.000 đồng.

Hình thức đánh bạc: Trong 04 người chơi sẽ chọn ra 01 người làm cái, sau đó sẽ thay nhau luân phiên làm cái. Người làm cái sẽ bỏ 03 viên xúc xắc (mỗi viên có 06 mặt, mỗi mặt có in một hình Tôm, C, B1, C1, G và N1) vào trong 01 xô nhựa và đậy miệng xô nhựa bằng 01 mâm inox rồi lắc mạnh. Số tiền đặt cược dao động từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Những người tham gia đánh bạc sẽ đặt tiền vào một hoặc nhiều hình trên tờ giấy có in hình Tôm, C, B1, C1, G và N1 mà mình muốn. Người làm cái sẽ trả tiền căn cứ vào mặt ngửa có in hình trên xúc xắc, nếu hình những người tham gia đánh bạc đặt cược không xuất hiện trên mặt ngửa của xúc xắc thì người làm cái thắng. Tổng số tiền Phạm Quang H1, Trần Hoàng L, Nguyễn Thái X và Dương Ngọc P sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 1.500.000 đồng.

Quá trình tra cứu nhân thân, xác định Nguyễn Thái X có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Đối với Phạm Quang H1, Trần Hoàng L và Dương Ngọc P không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên không đủ căn cứ để xử lý về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Phạm Đắc H không biết H1, L, P và bị cáo X sử dụng bãi xe ô tô “Đặng Đình T” do H làm chủ để đánh bạc, H không rủ rê, không thu tiền xâu nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2025/HS-ST ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái X phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt Nguyễn Thái X 06 tháng tù.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

3. Kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Thái X kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Hình phạt của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu; cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về kháng cáo:

2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Áp dụng cho bị cáo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn được chính quyền địa phương xác nhận, thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính và duy nhất trong gia đình, phải nuôi vợ và 03 con nhỏ, vợ của bị cáo chưa có việc làm. Áp dụng cho bị cáo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Về hình phạt:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thái X là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được tình tiết mới nêu trên; xét thấy, bị cáo tham gia đánh bạc chỉ có 350.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc X cùng các đối tượng khác tham gia chỉ có 1.500.000 đồng, chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự tất cả những người đánh bạc; tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự, nên thuộc tình tiết định khung “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 2 của Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao và các nội dung khác của nghị quyết, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo; do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách theo quy định, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Thái X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Không chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái X.

Sửa một phần về hình phạt do khách quan, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2025/HS-ST ngày 07-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2).

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái X 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 21-8-2025.

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Giao bị cáo Nguyễn Thái X cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái X không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ