- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đinh Thị My H yêu cầu được ly hôn với anh Phan Văn Th, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị My H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 459/2022/HNGĐ-ST Ngày 23- 12- 2022 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Phi Hùng
2. Bà Trần Ngọc Anh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 276/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đinh Thị My H, sinh năm 1988.
Nơi cư trú:tổ 8, ấp Phú Tận A, xã Phú L, huyện P, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: anh Phan Văn Th, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: tổ 6, ấp Phú Lợi, xã Phú L, huyện P, tỉnh An Giang.
(Chị H yêu cầu vắng mặt, anh Th vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Vào năm 2008, chị và anh Phan Văn Th được gia đình tổ chức lễ cưới, tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Phú L (Giấy chứng nhận kết hôn số 37, ngày 04/4/2018). Nguyên nhân mâu Tẫn: do thường xuyên cãi nhau về chuyện tiền bạc, anh Th không lo làm ăn, cha của anh Th không khuyên ngăn nên đã ly thân khoảng 06 tháng nay, từ khi ly thân không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Th.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009, yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung tự thoả Tận, không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án tiến hành xác minh được ông Phan Trí Th (cha ruột của anh Th) cho biết: Khoảng tháng 5/2022, vợ chồng H - Th không còn chung sống, thời gian sống trên Bình Dương thường xuyên cự cãi nhau về chuyện tiền bạc, không phù hợp về tính tình, ông không can ngăn được. Vợ chồng H - Th có 02 con chung Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009 do H nuôi dưỡng sau khi ly thân đến nay, do Th đi làm ở xa nên Toà án mời hoà giải không về được.
Toà án tiến hành xác minh được bà Đinh Thị T (chị ruột của chị H) cho biết: Vợ chồng H lên Bình Dương khoảng năm 2020, thời gian chung sống thường xuyên cự cãi về chuyện tiền bạc, do Th không lo làm ăn, không chịu đi làm kiếm thêm T nhập phụ H nuôi con. H bỏ về quê ly thân từ tháng 5/2022 đến nay không còn chung sống. 02 con chung tên Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009 do H nuôi dưỡng sau khi ly thân đến nay.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh Th. Về con chung: cần giao cháu Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản tự thoả Tận không yêu cầu giải quyết và nợ chung không có nên không xem xét; về án phí, chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã Phú L, huyện P, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố Tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về yêu cầu ly hôn: Chị H và anh Th có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu, đạt được mục đích thì phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau, nhưng anh chị không làm được điều đó, Tòa án đã triệu tập anh Th để tham gia hòa giải hai lần và trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh đều không đến, đã ly thân không còn chung sống, chị H cương quyết yêu cầu ly hôn, nên chấp nhận cho chị Đinh Thị My H được ly hôn với anh Phan Văn Th là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
Trường hợp không thỏa Tận được việc nuôi con chung thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Cháu Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009 do chị H đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, Tận lợi trong việc học tập, phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị Đinh Thị My H được chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên anh Phan Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thoả Tận, chị Đinh Thị My H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Đinh Thị My H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị My H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Phan Văn Th không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị My H.
1. Về hôn nhân: chị Đinh Thị My H được ly hôn với anh Phan Văn Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 37, ngày 04/4/2018 do Uỷ ban nhân dân xã Phú L, huyện P cấp không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Van A, sinh ngày 18/4/2016 và Phan Hải Đăng, sinh ngày 02/8/2009 cho chị Đinh Thị My H trực tiếp nuôi dạy đến thành niên và tự lập được. Anh Phan Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Th.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Tự thoả Tận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về nợ chung: Ghi nhận chị Đinh Thị My H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Đinh Thị My H phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai T tiền số 0005557 ngày 30/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P. Anh Phan Văn Th không phải chịu án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.