vanban.org

Bản án 459/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hôn nhân – gia đình;

228; các điều 271; 273; 278 và khoản 1, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Chị Trần Thị Ngọc B được ly hôn với anh Phan Duy L. Giấy chứng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ngọc B Tranh chấp HNGĐ xin ly hôn Và nuôi con với Phan Duy L"
  • Tòa quyết gì? hôn nhân – gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 459/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16/12/2020
V/v: Tranh chấp HNGĐ xin ly hôn
Và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức.

2. Ông Võ Thái Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân- Thư ký Tòa án.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông

Nguyễn Văn Hoài- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh

An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2020/TLST- HNGĐ ngày

27/5/2020, về: “ Tranh chấp hôn nhân- gia đình, xin ly hôn và nuôi con”, theo quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2020,

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1975.

- Bị đơn: Phan Duy L, sinh năm 1972.

Cùng cư trú ấp Bình Tr 2, xã Bình Thạnh Đ, Phú T, An Giang.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai thì chị Trần Thị Ngọc B khai: Chị với

anh L thành vợ chồng vào năm 1996, có đăng ký kết theo giấy chứng nhận kết hôn

số 165, ngày 24 tháng 8 năm 2006 do Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông, huyện

Phú Tân cấp.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính

tình không phù hợp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thường xuyên cự cải,

sống không hạnh phúc, có 01 lần xa nhau thời gian ngắn rồi chung sống lại, nhưng

vẫn không hạnh phúc và ly thân từ năm 2016 đến nay 4 năm.

Con chung có 02 đứa tên: Phan Trần Thảo My, sinh ngày 02/7/1997 đã

thành niên và đi làm việc; Phan Thành Vinh, sinh ngày 09/9/2004, đang sống với anh Vinh .

Tài sản và nợ phải thu, phải trả: Không có.

Yêu cầu :

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh L.

- Về con chung: Đứa con tên M đã thành niên và đi làm việc, vì vậy

không yêu cầu Tòa án giải quyết phải giao cho ai nuôi; đồng ý cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng đứa con tên Vinh, chị không cấp dưỡng.

- Về tài sản và nợ phải thu, phải trả: Không có, vì vậy không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 22/7/2020 thì anh Phan Duy L khai: anh với chị B

thành vợ chồng vào năm 1996, có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 165, ngày 24 tháng 8 năm 2006 do Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân cấp.Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc, có xa nhau 01 lần thời gian ngắn rồi chung sống lại nhưng không hạnh phúc, chị B đi mua bán và ly thân từ năm 2016 đến nay. Con chung có 02 đứa tên: Phan Trần Thảo M, sinh ngày 02/7/1997 đã thành niên và đi làm việc; Phan Thành V, sinh ngày 09/9/2004, đang sống với anh; Tài sản và nợ phải thu, phải trả: Không có. Yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Không đồng ý chung sống lại với chị B mà sau khi đứa

con tên Vinh học thành tài anh mới đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Đứa con tên My đã thành niên và đã đi làm, do đó

không yêu cầu Tòa án giải quyết; yêu cầu được tiếp tục nuôi đứa con tên Vinh

không yêu cầu chị B cấp dưỡng.

-Về tài sản và nợ phải thu, phải trả: Không có, vì vậy không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký

và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Riêng anh L được triệu tập hợp lệ 02 lần để tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; xét xử nhưng vắng mặt, đều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật chưa thật sự nghiêm. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị B là có căn cứ pháp luật đề nghị HĐXX xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra công khai tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

(HĐXX) nhận định:

Về hình thức, thủ tục tố tụng :

Anh L đã được triệu tập để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao

nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng đều vắng mặt, vì vậy

đã lập các biên bản không tiến hành được phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp

cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh L đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt, HĐXX căn cứ

điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử.

[ 1.3] Chị B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy HĐXX cân cứ khoản

1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung :

Hôn nhân giữa chị B với anh L có đăng ký kết hôn vào năm 2006,

đây là hôn nhân hợp pháp được luật pháp bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xãy

ra.

- Về nguyên nhân ly thân: chị B cho rằng do tính tình không phù hợp hoàn

cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc, có 01

lần xa nhau thời gian ngắn rồi chung sống lại, nhưng không hạnh phúc và ly thân từ

năm 2016 đến nay. Anh L cho rằng, do tính tình không phù hợp, thường xuyên cự

cải, sống không hạnh phúc, có xa nhau 01 lần thời gian ngắn rồi chung sống lại

nhưng không hạnh phúc, chị B đi mua bán và ly thân từ năm 2016 đến nay, anh

không đống ý chung sống lại với chị B mà khi nào con anh học thành tài mới đồng

ý ly hôn. HĐXX xét thấy, Tòa án triệu tập hòa giải 02 lần nhầm hàn gắn chung sống

lại, nhưng anh L điều vắng mặt, hơn nữa theo biên bản lấy lời khai thì anh không

đồng ý chung sống lại với chị B, đều đó cho thấy anh không còn thương yêu chị B,

hạnh phúc gia đình thật sự không còn, vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị

B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về quan hệ con chung: có 02 đứa tên Phan Trần Thảo M, sinh ngày

02/7/1997 đã thành niên và đi làm việc; Phan Thành V, sinh ngày 09/9/2004, đang

sống với anh V. HĐXX xét thấy, đứa con tên My đã thành niên và lao động được;

đứa con tên V đang sống với anh L và anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chị B

đồng ý và nguyện vọng của Cháu Vinh được tiếp tục sống vơi cha, vì vậy giao cho

anh L được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con, vì

vậy chị B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về taì sản: Chị B và anh L khai không có, vì vậy HĐXX không xem

xét.

Về nợ phải thu: Không có, vì vậy HĐXX không xem xét.

Về nợ phải trả: Chị B, anh L khai không có không có, vì vậy HĐXX

ghi nhận, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị B và anh L phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí DSST: Chị B phải chịu án phí về việc ly hôn theo quy

định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- khoản 1 Điều 56; khoản 2, Điều 81; khỏan 3 Điều 82 và Điều 83 Luật

hôn nhân – gia đình;

- Khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; các khoản 1, 3, Điều

228; các điều 271; 273; 278 và khoản 1, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

- Chị Trần Thị Ngọc B được ly hôn với anh Phan Duy L. Giấy chứng

nhận kết hôn số 165, ngày 24 tháng 8 năm 2006 do Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân cấp không còn giá trị pháp lý.

- Anh Phan Duy L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đứa con

tên Phan Thành V, sinh ngày 09/9/2004. không ai được quyền ngăn cảng mà phải tạo điều kiện thuận lợi khi chị B đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Công nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên không cố

định.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị B phải chịu án phí về việc xin ly hôn là

300.000đ ( ba trăm ngàn đồng chẵn), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng chẵn), theo biên lai thu số 0006696 ngày 27/5/2020 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Chị B và anh L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ

ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật

thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ