vanban.org

Bản án 458/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt Lê Tấn T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2019. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––
Bản án số: 458/2019/HS-PT
Ngày 18 -10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các"Thẩm"phán:""1. Ông Bùi Đức Nam

2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân

Thư ký phiên tòa:"Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa:""Ông Trần Thanh Khánh "- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 385/HSPT ngày 16 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Lê Tấn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2019/HSST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. "

Bị"cáo:

Lê Tấn T; sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 145/39 Phan Văn K, Phường 5, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm công; trình độ học học vấn: 6/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: ông Lê Tấn P, mẹ: bà Nguyễn Thị Kim P; chưa có vợ cơn; tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giam ngày 22 tháng 3 năm 2019. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 21/3/2019 Lê Tấn T đến quán Bar 86 trên đường H, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh chơi. Tại đây, Lê Tấn T được một người bạn tên N (không rõ lai lịch) giới thiệu mua ma túy đã của một người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch) cũng đang ngồi trong quán bar với giá 800.000 đồng để sử dụng. Sau khi Lê Tấn T đưa tiền cho L thì L nói với Lê Tấn T lấy 01 hộp thiếc trên bàn bên trong có chứa ma túy. Lê Tấn T cầm chiếc hộp và đi đến một khách sạn trên đường L, Quận 10 để sử dụng ma túy. Tại khách sạn, Lê Tấn T lấy 02 bịch ma túy đá trong hộp thiếc ra sử dụng, phần còn lại Lê Tấn T bỏ vào trong hộp thiếc. Đến sáng ngày 22/3/2019 Lê Tấn T từ khách sạn về nhà ở Quận 6, Lê Tấn T bỏ chiếc hộp thiếc có chứa ma túy chưa sử dụng hết vào trong túi xách đeo trên người. Khi Lê Tấn T về đế nhà thì Nguyễn Văn S là bạn chơi ngoài xã hội của Lê Tấn T gọi điện để hỏi mượn tiền, Lê Tấn T rủ Nguyễn Văn S đến nhà ở Quận 6 chơi và nhờ Nguyễn Văn S chở Lê Tấn T đi lấy lại giấy chứng minh nhân dân của Lê Tấn T đã bỏ quên ở khách sạn, Nguyễn Văn S đồng ý. Khi đang ở nhà ngồi chờ Nguyễn Văn S thì có B (không rõ lai lịch) là bạn ngoài xã hội của Lê Tấn T gọi điện cho Lê Tấn T để nhờ Lê Tấn T đưa 01 (một) gói bồ đà cho bạn của B đang ở gần khách sạn nơi Lê Tấn T sắp đến, Lê Tấn T đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày, tại đầu hẻm 121 H, Phường 5, Quận 6, B đưa cho Lê Tấn T 01 gói bồ đà rồi bỏ đi, Lê Tấn T cất gói bồ đà trên vào túi xách đeo trên người. Lúc này, Nguyễn Văn S đến nhà chở Lê Tấn T đến khách sạn lấy lại chứng minh nhân dân. Đến 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi cả hai đến trước số nhà 38 P, Phường 14, Quận 5 thì bị tổ tuần tra 363 Công an Quận 5 phát hiện Nguyễn Văn S và Lê Tấn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi đeo trên người của Thịnh Lê Tấn T có một gói nylon bên trong chứa lá, cành cây khô và một hộp thiếc bên trong có 07 gói nylon chứa tinh thể không màu. Lê Tấn T khai là ma túy do Thịnh mua và cất giữ nhằm mục đính sử dụng. Công an Phường 14, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang với Thịnh. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Lê Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Tại kết luận giám định số 771/KLGĐ-H ngày 29/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 07 (bảy) gói nylon chứa tinh thể không màu bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Tấn T và hình dấu Công an Phường 14, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1980 g (một phẩy một chín tám không gam), loại Methamphetamine. Tại Kết luận giám định số 1808/C09B ngày 29/3/2019 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói nylon chứa thảo mộc khô bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Tấn T và hình dấu Công an Phường 14, Quận 5 gửi giám định, không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ, có khối lượng 4,3892g (bốn phẩy ba tám chín hai gam) mẫu có 5 – Fluoro MDMB-PICA, là một dạng cần sa tổng hợp mới xuất hiện tại Việt Nam. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2019/HSST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy””. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Tấn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2019. Ngày 19/8/2019 bị cáo Lê Tấn T Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo bị nhiễm HIV giai đoạn cuối và cung cấp hồ sơ bệnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu sau khi phân tích tính chất của vụ án, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 22/3/2019 tại địa chỉ nhà số 38 P, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Lê Tấn T bị Công an Phường 14, Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang có hành vi cất giấu ma túy với khối lượng 1,1980 g, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra bị cáo Lê Tấn T còn cất giữ 4,3892 g, mẫu có 5-fluoro MDMB-PICA là một dạng cần sa tổng hợp mới xuất hiện tại Việt Nam nhưng không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Với hành vi của Lê Tấn T, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội không oan sai.

Bị cáo kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định là hợp lệ.

Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Khi lượng hình, tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo các tình tiết: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu theo qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tuyên phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là phù hợp.

Tại phiên tòa, gia đình bị cáo cung cấp bản sao hồ sơ bệnh án thể hiện bị cáo bị bệnh HIV. Tuy nhiên, xét về hành vi phạm tội của bị cáo, hình phạt mà hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng và chính sách xử lý các tội phạm về ma túy thì tình tiết vừa nêu không đủ thể giảm thêm một phần hình phạt đối với bị cáo.

Từ các nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận chấp kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt Lê Tấn T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2019.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ