- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 457/2018/HSST Ngày: 26/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Trương Thị Thìn
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Đình Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 432/2018/HSST ngày 06/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 450/2018/HSST ngày 12/11/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S; sinh năm 1988 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do, chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 05/12; con ông: Nguyễn Văn R (1945) và con bà: Đặng Thị K (1952); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư và chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 22/02/2017, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (chấp hành xong bản án vào ngày 25/01/2018); Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2018 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S là người sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy tổng hợp). Khoảng 10 giờ ngày 14/05/2018, S đến khu vực khu du lịch S, thuộc quận C, thành phố Hồ Chí Minh mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó S chia gói ma túy thành 05 (Năm) gói nhỏ để sử dụng dần. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, S mang 05 (Năm) gói ma túy đến phòng trọ số 10, Khu phố 11, phường A, thành phố B do anh Phan Văn T - Sinh năm 1986 có hộ khẩu thường trú: Xã H, huyện T, thành phố H thuê ở. Trong lúc anh Phan Văn T cùng với anh Nguyễn Tấn T có hộ khẩu thường trú: Xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và anh Đỗ Mạnh C có hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã H, huyện G, tỉnh Thanh Hóa đang ngồi dưới nền phòng trọ, S tự ý đi lên gác xép cất giấu 05 (Năm) gói ma túy ở góc sàn trên gác xép.
Đến khoảng 01 giờ ngày 15/5/2018, tại phòng trọ số 10, khu phố 11, phường A, thành phố B, S đang cất giấu 05 (Năm) gói ma túy tổng hợp thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa phát hiện bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: 05 (Năm) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (S khai là ma túy tổng hợp – hàng đá), niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn S, kí hiệu M;
Tại Kết luận giám định số 252/PC54-GĐMT ngày 23/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau: Tinh thể màu trắng chứa trong mẫu M gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6486 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 425/CT/VKS-HS ngày 31/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
- Bị cáo Nguyễn Văn S không tranh luận và trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xủ xem xét giảm nhẹ;
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận: Vào ngày 15/05/2018, tại phòng số 10, khu phố 11, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,6486 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine) thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa phát hiện bắt quả tang.
Về tội danh: Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã có tiền án lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn (gia đình có công cách mạng). Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về phần xử lý vật chứng: Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bồ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 252/PC54-GĐMT ngày 23/5/2018 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND tỉnh Đồng Nai; -VKSND TP.Biên Hòa; -Công an TP.Biên Hòa; -THA.DS TP.Biên Hòa; -THA.HS -Bị cáo – NTG; -Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Phƣơng Đông |