- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 455/2022/HSST Ngày: 17/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Ông Lê Văn Ninh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Quyên - cán bộ toà án nhân dân TP TH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TH tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 456/2022/HSST 24/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 441/2022/QDXXST - HS ngày 07/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Ngọc T; Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1969, tại TH.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKT: Xóm Nhân Hòa, xã Thịnh Đức, thành phố TH, tỉnh TH.
Nơi ở hiện tại: Xóm Nhà Thờ, xã Phúc Trìu, thành phố TH, tỉnh TH.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Tống Ngọc T, đã chết; Con bà: Hoàng Thị M, sinh năm 1927; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 05; Vợ: Bùi Thị L, sinh năm 1978; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: + Tại Bản án số 262/HSST ngày 13/11/1998 của Tòa án nhân dân thành phố TH xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân". Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2000. Chấp hành xong án phí và truy thu ngày 18/10/2007.
+ Tại Quyết định xử phạt hành chính số 39/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/1998 của phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh TH xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Dùng chất ma túy”.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1978(Có mặt)
Địa chỉ: Xóm Nhà Thờ, xã Phúc Trìu, TP. TH, tỉnh TH.
* Người chứng kiến : Mùng văn D, sinh năm 1971(Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Nam Thành, xã Quyết Tiến, Thành phố TH
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 13/7/2022, tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng, thành phố TH làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Nam Thành của xã đã phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-008.69 có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông khai nhận tên là Tống Ngọc T. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng tại túi quần bên trái phía trước của T. T khai nhận đó là Heroine mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe mô tô biển kiểm soát 20B2-008.69.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tống Ngọc T có khối lượng 0,122 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 21/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,122 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Tống Ngọc T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-008.69 đi từ nhà đến khu vực cống điều tiết kênh hồ Núi Cốc thuộc xóm Nam Thành, xã Quyết Thắng, thành phố TH để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cất gói Heroine vào trong túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Tống Ngọc T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 20B2-008.69, xe cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chị Bùi Thị L (sinh năm 1978; HKTT: Xóm Nhà Thờ, xã Phúc Trìu, thành phố TH, tỉnh TH) là người đứng tên đăng ký xe và là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên. Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 467/CT-VKSTPTN, ngày 21/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đã truy tố Tống Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Kết thúc phần xét hỏi, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tống Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy : 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma tuý.; Trả lại cho chị Bùi Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 20B2-008.69, xe cũ, đã qua sử dụng quản lý, sử dụng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Tống Ngọc T tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 13/7/2022, tại khu vực xóm Nam Thành, xã Quyết Thắng, thành phố TH, tỉnh TH, Tống Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,122 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Quyết Thắng, thành phố TH phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của nêu trên của Tống Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
TTộộii pphhạạmm vvàà hhììnnhh pphhạạtt ccủủaa TTrrầầnn VVăănn TTooảảnn được quy định tạiđ
đđiiểểmm cc,, kkhhooảảnn 11 ĐĐiiềềuu 224499 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự..
NNộộii dduunngg đđiiềềuu lluuậậtt qquuyy đđịịnnhh nnhhưư ssaauu::
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, Heroine.......có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.
4] . Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, song do nghiện ma túy, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, năm 1998 đã bị Toà án xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” và bị xử phạt hành chính về hành vi “ Dùng chất ma tuý”, tuy được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tu chí làm ăn, tiếp tục sa vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, nên hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện lượng khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là co phần hơi nghiêm khắc đối với tình chất, mức độ, hành vi của bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì giá trị, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Cần tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A, A1 bên trong chứa ma tuý.
Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 20B2-008.69, xe cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chị Bùi Thị L, vợ của bị cáo T, là người đứng tên đăng ký xe và là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên. Chị L trình bày chiếc xe máy trên là tiền riêng của chị đứng ra mua năm 2017 với giá 27.000.000 đồng, T không đóng góp gì vào số tiền trên để mua xe, mục đích mua xe để sử dụng làm phương tiện đi lại, sinh hoạt của gia đình. Bị cáo T sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý chị không biết. Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà chị xin được trả lại chiếc xe mô tô trên vì là chiếc xe duy nhất để chị sử dụng đi làm, sinh hoạt trong gia đình. HĐXX thấy cần trả lại cho chị L chiếc xe mô tô BKS 20B2 – 008.69 quản lý, sử dụng là phù hợp.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ T khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực xóm Nam Thành, xã Quyết Thắng, thành phố TH. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Đối với chị Bùi Thị L là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 20B2-008.69, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chị L không biết ngày 13/7/2022 T mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Tống Ngọc T : 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thhờờii hhạạnn cchhấấpp hhàànnhh hhììnnhh pphhạạtt ttùù ttíínnhh ttừừ nnggààyy 1133//77//22002222.. KKhhôônngg áápp ddụụnngg hhììnnhh pphhạạtt bbổổ ssuunngg đđốốii vvớớii bbịị ccááoo..
ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: + 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A1, bên trong chứa 0,112 gam mà túy và vỏ bao hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có các dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh TH và có chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Ma Nhật Anh.
+ 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A2 – bên trong chứa vỏ bao mẫu ban đầu, mặt sau bì có 03 dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an thành phố TH và có chữ ký của Ngô Đức C, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hữu H, Tống Ngọc T, Mùng Văn D, Nguyễn Quang K.
- Trả lại cho chị Bùi Thị L quản lý, sử dụng: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, màu đỏ đen, gắn biển kiểm soát: 20B2- 00869; Số khung: RLHJA3648GY058138; Số máy: JA36E- 0518763; Loại xe: Hai bánh từ 50- 175m3; Dung tích xi Lh: 109; Xe đã qua sử dụng
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 51 ngày 26/10/2022).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thư TAND TP. TH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TH, ngày 21 tháng 02 năm 2019
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi……. giờ…..ngày 21 tháng 02 năm 2019
Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố TH
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Trần Kim Liên
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST - HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Vũ Văn Tuấn, sinh ngày 27 tháng 03 năm 1973.
Tên gọi khác: Không
Nơi đăng ký NKTT: Tổ 12, phường Quan Triều, TP TH, tỉnh TH.
Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Kết quả biểu quyết 3/3.
2. Về điều luật áp dụng :: Căn cứ
điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Kết quả biểu quyết 3/3.
3.Về mức hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Tuấn: 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/10/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
4. Về các vấn đề khác:
** VVềề xxửử llýý vvậậtt cchhứứnngg:: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4477 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự;; ĐĐiiềềuu 110066 BBộộ lluuậậtt TTốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự nnăămm 22001155::
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T (Bì niêm phong chứa chất ma túy).
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95 ngày 04/01/2019).
** VVềề áánn pphhíí:: ÁÁpp ddụụnngg kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 113366 BBộộ lluuậậtt ttốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự;; NNgghhịị qquuyyếếtt 332266//22001166//UUBBTTVVQQHH nnggààyy 3300//1122//22001166,, bbuuộộcc bbịị ccááoo pphhảảii nnộộpp 220000..000000 đđồồnngg ((HHaaii ttrrăămm nngghhììnn đđồồnngg)) áánn pphhíí hhììnnhh ssựự ssơơ tthhẩẩmm vvààoo nnggâânn ssáácchh nnhhàà nnưướớcc..
** VVềề qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo:: BBịị ccááoo ccóó mmặặtt ttạạii pphhiiêênn ttooàà ccóó qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo bbảảnn áánn ttrroonngg tthhờờii hhạạnn mmưườờii llăămm nnggààyy kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày 21 tháng 02 năm 2019
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thư Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, người làm chứng, vật chứng thu giữ. (BL: 14-40)
Vật chứng của vụ án là: 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới sắt B40; 01 bó lưới sắt B40 có chiều dài 3m.
Tại bản kết luận số 158/HĐĐGTS, ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: Tổng giá trị tài sản trên là 442.500đ. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Phương đại diện công ty CP Trung Tín quản lý, sử dụng, ông Phương không có yêu cầu đề nghị gì.
Tuy tài sản do Trần Phi Hùng trộm cắp có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng trước đó Hùng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi nêu trên của Trần Phi Hùng đã cấu thành tội phạm hình sự.
Bản cáo trạng số 314/KSĐT - KT, ngày 14/7/2014 của VKSND thành phố TH truy tố Trần Phi Hùng về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự đối xử phạt Trần Phi Hùng từ
đến tháng tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2014.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác..
XÉT THẤY
Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 13/5/2014, tại công trường xây dựng của Công ty cổ phần Trung Tín thuộc tổ 9, phường Trưng Vương, TPTN. Trần Phi Hùng là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản đã thực hiện hành vi trộm cắp của Công ty cổ phần Trung Tín 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới B40 và 01 bó lưới sắt B40 dài 3m, tổng trị giá là 442.000đ. Khi Hùng đang mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho công ty cổ phần Trung Tín quản lý, sử dụng.
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là thành khẩn khai báo bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 48 Bộ luật hình sự.
Mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Toàn bộ tài sản do Hùng trộm cắp đã được thu hồi trả lại Công ty cổ phần Trung Tín, đại diện là anh Nguyễn Văn Phương, anh Phương không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự,
- Xử phạt Trần Phi Hùng:
(
) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014.
Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam Trần Phi Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL - UBTNQH12 về án phí, lệ phí Tòa án: buộc Trần Phi Hùng phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
| Nơi nhận: VKSND, Tỉnh, TP; - Công an TPTN; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đặng Minh Tuân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoµng Quý Söu |