vanban.org

Bản án 455/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa anh Trần Văn D với chị Võ Thị Y.

Chị Võ Thị Y được tiếp tục nuôi dưỡng đứa con tên Trần Thị kim Ch, sinh ngày 01/3/2008. Công nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, không ai được cảng trỡ khi anh D đến thăm nom, chăm sóc con, việc vuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên không cố định. Về án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn D Tranh chấp HNGĐ xin ly hôn và nuôi con với Võ Thị Y"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa anh Trần Văn D với chị Võ Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 455/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14/12/2020
V/v: “ Tranh chấp HNGĐ xin ly
hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử ( HĐXX) sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Võ Thái Quân.

2. Võ Văn Tám.

- Thư ký phiên tòa: Phạm Minh Cảnh -Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tam gia phiên tòà: Nguyễn Văn Hoài- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235 /2020/TLST- HNGĐ ngày 17/6/2020, về: “ Tranh chấp hôn nhân- gia đình, xin ly hôn và nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Văn D, sin năm 1984.

- Bị đơn: Võ Thị Y, sinh năm 1985.

Cùng cư trú ấp Phú Quới, xã Phú Thành, Phú Tân, An Giang.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai thì anh Trần Văn D trình bày: Anh với chị Y thành vợ, chồng vào năm 2007, không đăng ký kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống, không hạnh phúc và chính thức ly thân từ năm 2014 đến nay.

- Con chug có 01 đứa tên Trần Thị kim Ch, sinh ngày 01/3/2008 sống với chị Y.

- Về tài sản; nợ phải thu và phải trả: Không có.

Yêu cầu:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị Y.

- Về con chug: Đồng ý cho chị Y được tiếp tục nuôi con, anh không khả

năng cấp dưỡng, nếu chị Y không nuôi thì anh nuôi, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng.

- Về tài sản; nợ phải thu và phải trả: Không có, vì vậy không yêu cầu Tòa

án giải quyết.

Đối với chị Y đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó không

hòa giải được. Theo bản tự khi ngày 06/8/2020 của anh Võ Minh Qung ( anh ruột của chị Y ) thể hiện: “ Tôi là anh ruột của Võ Thị Y, sau khi ly thân với D thì Y và con Trần Thị Kim Chi về sống chung với anh và anh nuôi dưỡng, Y đang đi nơi khác làm ăn, vợ chồng Y không có tài sản và nợ. Yêu cầu của Y là đồng ý ly hôn và được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu D cấp dưỡng”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra công khai tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử ( HĐXX ) nhận định:

Về hình thức, thủ tục tố tụng :

Chị Y đã được triệu tập để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao

nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng đều vắng mặt, vì vậy đã lập các biên bản không tiến hành được phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Chị Y đã được triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy

HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Anh D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy HĐXX căn cứ khoản

1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[ 2] Về nội dung :

Quan hệ hôn nhân giữa anh D với chị Y thành vợ, chồng vào năm

2007, theo giấy xác nhận số 402/GXN-UBND, ngày 11/8/2020 của Ủy ban nhân dân xã Phú Thành, Phú Tân, An Giang thì anh D và chị Y không đăng ký kết. Như vậy hôn nhân của anh, chị theo khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân- gia đình quy định thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng không được pháp luật bảo vệ, do đó không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa anh D với chị Y.

Về quan hệ con chung: Có 01 đứa tên Trần Thị kim Chi, sinh ngày

01/3/2008 sống với chị Y. Chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi không yêu cầu anh D cấp dưỡng và nguyện vọng cũa cháu Chi được tiếp tục sống với mẹ, được anh D đồng ý, vì vậy chị Y được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C theo quy định tại khoản 2, Diều 81 Luật hôn nhân- gia đình.

Về quan hệ tài sản: Anh D khai không có, nhưng sau nầy nếu chị Y chứng minh tài sản chung của 2 người có thì chị có quyền khởi kiện yêu cầu anh D chia tài chung sau khi ly hôn

Về quan hệ nợ phải thu: Không có, vì vậy HĐXX không xem xét.

Về nợ phải trả: không có, vì vậy HĐXX ghi nhận, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh D và chị Y phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí DSST: Anh D phải chịu án phí về việc xin ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự là 300.000đ.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 14; khoản 2, Điều 81; khỏan 3, Đều 82; khoản 2, Điều 83 Luật hôn nhân – gia đình;

- Khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; các khoản 1, 3, Điều 228; các điều 271; 273; 278 và khoản 1, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự ;

Tuyên xử:

- Không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa anh Trần Văn D với chị Võ Thị Y.

- Chị Võ Thị Y được tiếp tục nuôi dưỡng đứa con tên Trần Thị kim Ch, sinh ngày 01/3/2008. Công nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, không ai được cảng trỡ khi anh D đến thăm nom, chăm sóc con, việc vuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên không cố định.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh D phải chịu án phí về việc xin ly hôn là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng chẵn), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng chẵn), theo biên lai thu số 0006814 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Anh D và chị Y có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ