- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 454/2021/HSST Ngày: 20/9/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Bà Lê Thị Mai Hanh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - cán bộ toà án nhân dân TP TH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TH tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 4717/2021/HSST 25/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2021/QĐXXST - HS ngày 06/9/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến N; Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1975
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, phường Phú Xá, TP TH, tỉnh TH.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề Nệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Hữu Thung, sinh năm 1942 (Đã chết); Con bà: Trần Thị Kim Hoan, sinh năm 1948; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai Nện bắt buộc số 193/2018/QĐ-TA ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố TH đối với Nguyễn Tiến N, trong thời gian 14 tháng. (Chấp hành xong ngày 12/12/2020).
- Nhân thân: Bản án số 128/HSST ngày 19/8/2004 của Tòa án nhân dân thành phố TH, xử phạt Nguyễn Tiến N 36 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2005; chấp hành xong khoản án phí, tiền phạt ngày 15/6/2005).
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời chứng kiến :
1. Anh Nguyễn Ngọc Hà, sinh năm 1981(Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, phường Trung Thành, TP. TH, tỉnh TH.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ, ngày 08/6/2021, tổ công tác Công an phường Trung Thành, thành phố TH, đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ 3 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ANGOX, BKS 20M4-6640 có biểu hiện N vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Nguyễn Tiến N rồi tự giác lấy từ lòng bàn tay trái ra 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. N khai đó là ma túy Heroine của N mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến N là 0,276 gam. Trích 0,073gam số chất bột màu trắng trên vào phong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định; Còn lại 0,203gam số chất bột màu trắng cho vào bì niêm phong kí hiệu A2 để lưu kho.
Kết luận giám định số 979/KLKTHS ngày 17/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,276 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến N khai nhận: Khoảng 09 giờ 50 phút, ngày 08/6/2021, N điều khiển xe mô tô BKS 20M4-6640 từ nhà đến khu vực trạm y tế phường Trung Thành, thành phố TH để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp một người đàn ông tên là Tuấn, sinh năm 1977 (không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ) là người Nện ma túy như N. N nhờ Tuấn mua hộ 100.000 đồng tiền ma túy. Tuấn đồng ý, N đưa cho Tuấn 100.000đồng. Sau đó Tuấn rời đi khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho N 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy màu vàng. N cầm gói ma túy trên trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an phường Trung Thành, thành phố TH phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên. Lời khai nhận của Nguyễn Tiến N phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang , kết luâ ̣n giám đi ̣nh , lời khai của những người chứ ng kiến và các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu A1, bên trong chứa ma túy và bao gói mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong chứa ma túy ; 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGOX BKS 20M4 – 6640 ,số khung 71F12658 , số máy FMH 012658, xe đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 463 /CT-VKSTPTN, ngày 17/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đã truy tố Nguyễn Tiến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Kết thúc phần xét hỏi, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy : 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa chất ma tuý.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát: 20M4 - 6640 là tài sản của bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Áp dụng Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tiến N tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do Nện ma túy, Hồi 10 giờ 20 phút, ngày 08/6/2021, tại khu vực tổ 9, phường Trung Thành, thành phố TH, tỉnh TH, Nguyễn Tiến N có hành vi tàng trữ trái phép 0,276 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị công an phường Trung Thành, thành phố TH phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.Hành vi của nêu trên của Nguyễn Tiến N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
TTộộii pphhạạmm vvàà hhììnnhh pphhạạtt ccủủaa NNgguuyyễễnn TTiiếếnn NN được quy định tạiđ
đđiiểểmm cc,, kkhhooảảnn 11 ĐĐiiềềuu 224499 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự..
NNộộii dduunngg đđiiềềuu lluuậậtt qquuyy đđịịnnhh nnhhưư ssaauu::
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, Heroine.......có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.
4] . Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là Nêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm Nêm trọng đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, đồng thời là ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do Nện ma túy nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người Nện ma túy, chưa có tiền án, có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 193/2018/QĐ-TA ngày 23/7/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố TH ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai Nện bắt buộc trong thời gian 14 tháng, mới chấp hành xong ngày 12/12/2020). Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị Toà án xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tuy được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép ma túy dẫn đến phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính Nêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện lượng khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và cần được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng Nện ma túy, bị cáo không có nghề Nệp ổn định, không có tài sản gì giá trị, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma tuý
- Về chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát: 20M4 – 6640 nhãn hiệu ANGOX, số khung: 71F12658, số máy: FMH 012658 xe đã qua sử dụng. Quá trình xác minh tại Cơ quan Điều tra xác định: Đăng ký xe mang tên Dương Văn Thi, địa chỉ: xóm Liên Minh, xã Hồng Tiến, Thị xã Phổ Yên đăng ký mới ngày 10/11/2008. Anh Dương Văn Thi khai đã mua lại chiếc xe trên với giá 8.000.000 đồng. Đến khoảng năm 2009 anh đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết với giá 6.000.000 đồng, đã giao giấy tờ xe và chiếc xe trên cho người mua, anh xác định đã bán xong và không còn liên quan gì đến chiếc xe nữa. Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo N khai bị cáo mua lại chiếc xe trên của một người không quen biết tại khu vực thành phố TH để sử dụng, giấy tờ xe bị cáo không nhớ đã để ở đâu. Bị cáo xác định chiếc xe trên là tài sản của bị cáo, bị cáo đã sử dụng xe làm phương tiện để đi mua ma túy. HĐXX thấy do bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe trên là phù hợp.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, N khai nhờ một người đàn ông tên Tuấn (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua hộ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến N : 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù giam. TThhờờii hhạạnn cchhấấpp hhàànnhh hhììnnhh pphhạạtt ttùù ttíínnhh ttừừ nnggààyy 0088//66//22002211.. KKhhôônngg áápp ddụụnngg hhììnnhh pphhạạtt bbổổ ssuunngg đđốốii vvớớii bbịị ccááoo
ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A1 bên trong chứa 0,057 gam ma túy mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu A1, hoàn trả sau giám định, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Minh Thanh và Ma Nhật Anh cùng 03 dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh TH; 01(một) bì niêm phong đúng quy định ký hiệu ký hiệu A2, bên trong chứa 0,203 gam ma túy heroine(chất bột màu trắng), mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Ngọc Hà, Mai Thành Viên, Trần Văn Hòe, Nguyễn Tiến N cùng 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an TP TH.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01(một) xe mô tô BKS: 20M4-6640, nhãn hiệu: AGOX, Số loại: 110 màu sơn: Đỏ - đen; dung tích xi lanh: 107; Loại xe: hai bánh từ 50 -175cm3; số chỗ ngồi: 2; Số máy: FMH* 012658, Số khung: 71F12658, xe cũ, đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 550 ngày 11/8/2021)
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thƣ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Anh Thƣ TAND TP. TH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TH, ngày 21 tháng 02 năm 2019
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi……. giờ…..ngày 21 tháng 02 năm 2019
Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố TH
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Trần Kim Liên
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST - HS ngày 15 tháng 01 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Vũ Văn Tuấn, sinh ngày 27 tháng 03 năm 1973.
Tên gọi khác: Không
Nơi đăng ký NKTT: Tổ 12, phường Quan Triều, TP TH, tỉnh TH.
Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Kết quả biểu quyết 3/3.
2. Về điều luật áp dụng :: Căn cứ
điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Kết quả biểu quyết 3/3.
3.Về mức hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Tuấn: 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/10/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 332299 BBLLTTTTHHSS QQuuyyếếtt đđịịnnhh ttạạmm ggiiaamm bbịị ccááoo 4455 nnggààyy,, kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn đđểể đđảảmm bbảảoo tthhii hhàànnhh áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
4. Về các vấn đề khác:
** VVềề xxửử llýý vvậậtt cchhứứnngg:: ÁÁpp ddụụnngg ĐĐiiềềuu 4477 BBộộ lluuậậtt HHììnnhh ssựự;; ĐĐiiềềuu 110066 BBộộ lluuậậtt TTốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự nnăămm 22001155::
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T (Bì niêm phong chứa chất ma túy).
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95 ngày 04/01/2019).
** VVềề áánn pphhíí:: ÁÁpp ddụụnngg kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 113366 BBộộ lluuậậtt ttốố ttụụnngg hhììnnhh ssựự;; NNgghhịị qquuyyếếtt 332266//22001166//UUBBTTVVQQHH nnggààyy 3300//1122//22001166,, bbuuộộcc bbịị ccááoo pphhảảii nnộộpp 220000..000000 đđồồnngg ((HHaaii ttrrăămm nngghhììnn đđồồnngg)) áánn pphhíí hhììnnhh ssựự ssơơ tthhẩẩmm vvààoo nnggâânn ssáácchh nnhhàà nnưướớcc..
** VVềề qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo:: BBịị ccááoo ccóó mmặặtt ttạạii pphhiiêênn ttooàà ccóó qquuyyềềnn kkhháánngg ccááoo bbảảnn áánn ttrroonngg tthhờờii hhạạnn mmưườờii llăămm nnggààyy kkểể ttừừ nnggààyy ttuuyyêênn áánn..
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày 21 tháng 02 năm 2019
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thƣ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thƣ Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Sở Tư pháp TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND, Tỉnh, TP;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an TPTN;
- THA phạt tù;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên , phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự , ngườ i làm chứ ng , vâ ̣t chứ ng thu giữ. (BL: 14-40)
Vâ ̣t chứ ng của vu ̣ án là : 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lướ i sắt B40; 01 bó lưới sắt B40 có chiều dài 3m.
Tại bản kết luận số 158/HĐĐGTS, ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố tu ̣ng hin h sự thành phố Thái Nguyên kết luâ ̣n : Tổng giá
̀ trị tài sản trên là 442.500đ. Hiê ̣n Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho ông Nguyễn Văn Phương đa ̣i diê ̣n công ty CP Trung Tin quản lý , sử du ̣ng, ông Phương không có
́
yêu cầu đề nghi ̣ gi.
̀
Tuy tài sản do Trần Phi Hùng trô ̣m cắp có giá tri ̣ dướ i 2 triê ̣u đồng nhưng trướ c đó Hùng đa bi ̣̃ xử pha ̣t hành chinh về hành vi chiếm đoa ̣t tài sản nên hành
́
vi nêu trên của Trần Phi Hùng đa cẫ ́u thành tô ̣i pha ̣m hinh sự.
̀
Bản cáo trạng số 314/KSĐT - KT, ngày 14/7/2014 của VKSND thành phố TH truy tố Trần Phi Hùng về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự đối xử phạt Trần Phi Hùng từ
đến tháng tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2014.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác..
XÉT THẤY
Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 13/5/2014, tại công trườ ng xây dựng của Công ty cổ phần Trung Tin thuô ̣c tổ 9, phườ ng Trưng Vương, TPTN. Trần Phi Hùng là
́ đối tượng Nện ma túy, đa bi ̣̃ xử pha ̣t hành chinh về hành vi chiếm đoa ̣t tài sản đa ̃
́
thực hiê ̣n hành vi trô ̣m cắp của Công ty cổ phần Trung Tin 01 cánh cổng khung
́ sắt ma ̣ kem cõ
́ kich thướ c 2 x 3m, bên trong hàn lướ i B 40 và 01 bó lưới sắt B40
́ dài 3m, tổng tri ̣ giá là 442.000đ. Khi Hùng đang mang tài sản trô ̣m cắp đi tiêu thu ̣ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng . Hiê ̣n tài sản đa đượ̃
c thu hồi trả cho công ty cổ phần Trung Tin quản lý, sử du ̣ng.
́
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là thành khẩn khai báo bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 48 Bộ luật hình sự.
Mứ c án đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghi ̣ ta ̣i phiên tòa đối vớ i bi ̣ cáo là phù hợp, được Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n.
Về trách nhiệm dân sự:
Toàn bộ tài sản do Hùng trộm cắp đã được thu hồi trả lại Công ty cổ phần Trung Tin, đa ̣i diê ̣n là anh Nguyễn Văn Phương , anh Phương không có đề nghi ̣ gi
́
̀ khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự,
- Xử phạt Trần Phi Hùng:
(
) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014.
Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam Trần Phi Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL - UBTNQH12 về án phí, lệ phí Tòa án: buộc Trần Phi Hùng phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đa ̣i diê ̣n Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa
Đặng Minh Tuân
| Nơi nhận: VKSND, Tỉnh, TP; - Công an TPTN; - THA phạt tù; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đặng Minh Tuân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoµng Quý Söu |