- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính VNTV"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Bùi Trung H có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V số tiền 21.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________ Bản án số: 453/2018/DS-ST Ngày: 26-9-2018. V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Thủy;
2. Ông Vũ Ngọc Tiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương – Là thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2018/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2018/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V.
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 2, Tòa nhà Ree T, số 9 đường Đoàn Văn B, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Phan Thị Mỹ H, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tầng 5 Tòa nhà F, số 144, đường Cộng H, Phường 12, quận Tân B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền số: 994/UQTA-QTRR.17 ngày 20/12/2017).
- Bị đơn: Ông Bùi Trung H, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: 032 lô H, chung cư Ngô Gia T, Phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/01/2015 ông Bùi Trung H có ký hợp đồng tín dụng số 20150107-100257-0009 với Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 28.857.195 đồng, lãi suất thỏa thuận 4,59%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận, ông H có trách nhiệm thanh toán số tiền 48.204.000 đồng (gồm vốn gốc là 28.857.195 đồng và lãi là 19.346.805 đồng), trả chậm liên tiếp trong 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng trả 2.009.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.997.000 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 12/02/2015, kỳ hạn thanh toán cuối cùng vào ngày 12/01/2017.
Thực hiện hợp đồng, ông H đã nhận đủ số tiền vay và đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là 27.153.000 đồng (tiền gốc 13.639.485 đồng, tiền lãi 13.513.515 đồng). Từ ngày 16/4/2017 ông H không thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, yêu cầu thanh toán nợ. Tại tòa Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải trả toàn bộ khoản nợ tới hạn là 21.051.000 đồng: Trong đó nợ gốc là 15.217.710 đồng, nợ lãi còn lại tính đến ngày 12/01/2017 là 5.833.290 đồng. Tiền lãi phát sinh từ ngày 13/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm Ngân hàng tự nguyện không tính với ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 5, khoản 11 Điều 70 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Bùi Trung H trả nợ vay, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Trung H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng ông H không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình, do đó Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông H vắng mặt tại phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn ông Bùi Trung H vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét Giấy ủy quyền số: 994/UQTA-QTRR.17 ngày 20/12/2017 của ông Lê Hiền T ủy quyền cho bà Phan Thị Mỹ H tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
. Về yêu cầu của nguyên đơn:
. Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 20150107-100257-0009 ngày 06/01/2015 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Bùi Trung H là hợp đồng vay tín chấp. Ông H vay 28.857.195 đồng của Ngân hàng để tiêu dùng cá nhân và có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng 48.204.000 đồng (tiền gốc 28.857.195 đồng, tiền lãi 19.346.805 đồng), trả chậm liên tiếp trong 24 tháng, bắt đầu từ ngày 12/02/2015 đến ngày 12/01/2017.
Sau khi ký kết hợp đồng, ông H đã nhận đủ số tiền vay, tuy nhiên ông H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn thì từ ngày vay đến ngày 15/4/2017 ông H mới thanh toán cho Ngân hàng được 12 lần với số tiền là 21.051.000 đồng (tiền gốc 15.217.710 đồng, tiền lãi 5.833.290 đồng). Từ ngày 16/4/2017 ông H không thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được thỏa thuận trong hợp đồng nên Ngân hàng được quyền khởi kiện đối với ông H để thu hồi nợ.
. Xét yêu cầu về tiền gốc: Tại phiên tòa, nguyên đơn đòi bị đơn trả nợ gốc còn lại là 15.217.710 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy ông H vay 28.857.195 đồng của Ngân hàng, hết hạn hợp đồng ông H mới trả cho Ngân hàng được 13.639.485 đồng nợ gốc. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông H phải trả cho Ngân hàng số nợ gốc còn lại là 15.217.710 đồng.
. Xét yêu cầu về tiền lãi: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 20150107-100257-0009 ngày 06/01/2015 Ngân hàng thỏa thuận với ông H về mức lãi suất vay là 4,59%/tháng. Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Số tiền lãi các bên thỏa thuận trong hợp đồng là 19.346.805 đồng, bị đơn đã trả 13.513.515 đồng còn lại 5.833.290 đồng. Hội đồng xét xử cần buộc ông H phải trả cho Ngân hàng số nợ lãi còn lại là 5.833.290 đồng. Ngân hàng không yêu cầu tính lãi đối với ông H từ ngày 13/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, sự tự nguyện này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đồng thời có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm mà bị đơn phải chịu là 21.051.000 đồng x 5% = 1.052.550 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Bùi Trung H có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V số tiền 21.051.000 đồng (trong đó nợ gốc là 15.217.710 đồng, nợ lãi là 5.833.290 đồng) thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 27/9/2018 trên nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 20150107-100257-0009 ngày 06/01/2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 1.052.550 đồng buộc ông Bùi Trung H phải chịu. Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 380.443 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0040259 ngày 03/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh V và bị đơn ông Bùi Trung H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 10; - Chi cục THADS Quận 10; - Các đương sư; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Hƣơng |