vanban.org

Bản án 452/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 452/2022/DS-PT
Ngày: 27-9-2022
V/v tranh chấp ranh giới quyền sử
dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hội

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hồng Diễm – Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công hai vụ án dân sự phúc thẩm thụ l số: 166/2022/TLPT- DS ngày 22 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2022/DS-ST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp bị háng cáo, háng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2022/QĐPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện theo ủy quyền cho bà C là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản úy quyền ngày 08/9/2022). (Có mặt)

1.2. Ông Nguyễn Văn L (tên gọi hác: T), sinh năm 1955.

- Người đại diện theo ủy quyền cho ông L là anh Nguyễn Vủ T, sinh năm 1989 (theo văn bản úy quyền ngày 21/12/2021). (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L là ông Lý Ngọc B là Trợ giúp viên pháp l thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

Địa chỉ: phường A, thành phố H, tỉnh Dồng Tháp.

2. Bi đơn:

2.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972. (Có mặt)

2.2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện theo ủy quyền cho ông C là bà Nguyễn Thị D, (theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2021).

3. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lâm Văn B, sinh năm 1962. (Có mặt)

3.2. Chị Lâm Thị P, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

3.3. Chị Lâm Thị Thúy H, sinh năm 2000. (Vắng mặt)

3.4. Chị Lâm Thị M, sinh ngày 02/8/2003. (Vắng mặt)

3.5. Chị Lâm Thị T, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

3.6. Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1995;

3.7. Anh Phạm Ngọc Q, sinh năm 1991;

- Người đại diện theo ủy quyền cho chị K, anh Ngọc Q là bà Nguyễn Thị D (theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2021). (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Dồng Tháp.

3.8. Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1965.

- Người đại diện theo ủy quyền cho ông Tr là anh Nguyễn Vủ T (theo văn bảnủy quyền ngày 30/12/2021). (Có mặt)

3.9. Ủy ban nhân dân huyện H. (Xin vắng mặt)

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban huyện H.

4. Người háng cáo Bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn L là nguyên đơn.

5. Người háng nghị Viện trưởng Viện iểm sát huyện H.

NỘI D NG V ÁN:

- Nguyên đơn trình bày:

+ Ông Nguyễn Văn L trình bày: Vào năm 1981, cha, mẹ ông là ông Nguyễn Văn L1 (chết), bà Nguyễn Thị H (chết), có mua của bà Ng (chết) phần đất chiều ngang 15m, chiều dài 70m với giá 01 chỉ vàng 24 ra, ranh trên giáp với đất của ông, ranh dưới giáp với đất bà D (đất do ông C đứng tên) và giáp đất ông H, ông Đi.

Anh, chị, em ông đã cất nhà ở ổn định trên 30 năm nay. Năm 2020, ông có đăng quyền sử dụng đất thì được biết phần đất bà D sử dụng do ông C (anh bà D) đứng tên quyền sử dụng đất đã lấn qua phần đất của ông. Nay ông yêu cầu ông C, bà D trả lại chiều ngang phía ngoài là 2,2m; chiều ngang phía sau là l,5m; chiều dài là 17,5m; Diện tích là 32,37m2, tại thửa đất số 321, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Đối với phần đất diện tích 11,3m2 do ông C đứng tên (ông đang sử dụng) ông hông yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa, anh T là người đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án xác định ranh đất giữa ông L với bà D, ông C là từ mốc M9 đến M14 theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 21/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quỵền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C đối với diện tích đất tranh chấp (20,8m2 + 1l,3m2 = 32,lm2).

+ Bà Nguyễn Thị C trình bày:

Về nguồn gốc đất như nội dung đơn hởi iện của ông Nguyễn Văn L trình bày. Về nội dung: Bà yêu cầu xác định ranh đất giữa bà với bà D, ông C là từ mốc M14 đến M17, theo sơ đồ đo đạc ngày 21/01/2021, sau hi xác định ranh đất bà yêu cầu bà D di dời hàng rào trả lại bà diện tích đất 19,6m2, thuộc một phần thửa 225, 231 do ông C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, đối với diện tích đất 23,9m2 tương ứng thửa số 9 theo sơ đồ đo đạc do ông C đứng tên bà hông yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông C, ể cả phần diện tích 19,6m2.

Tại phiên tòa, bà C giữ nguyên yêu cầu hởi iện và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C đối với diện tích đất tranh chấp (19,6m2 + 23,9m2 = 43,5m2).

Bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà là em ruột ông Nguyễn Văn C, phần đất tranh chấp hiện do ông C đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng bà và ông C sử dụng chung.

Phần đất nói trên có nguồn gốc là do cha bà là ông Nguyễn Văn Đ mua của ông Ba T. Việc mua đất hi nào bà hông nhớ, hông biết diện tích cụ thể mà biết mua 01 công, số tiền 900.000đ, và đã chia lại cho ông Đ nửa công.

Phần đất cha mẹ bà mua hông có trụ đá ranh với bên bà C, ông L. Phần đất cha mẹ bà bán lại cho ông Đ có chiều ngang 12m, còn phần đất của cha mẹ bà có chiều ngang 15m (do hi mua là đất có hình thể đầu voi đuôi chuộc. Trước đây, ông L có cất nhà cặp ranh, nay đã dời nhà, các cây dừa, me tây, cây xưa là do bên ông L, bà C trồng, trồng hi nào bà hông nhớ. Hàng rào nhà bà nằm bên phần đất của cha mẹ bà, chưa đến ranh phía bên ông L, bà C, ranh đất của bà còn nằm bên phía tiếp giáp với đất bà C, ông L. Bà không đồng theo yêu cầu hởi iện của bà C, ông L, bà yêu cầu đất bà đang sử dụng, anh bà là ông C đứng tên có diện tích được cấp như thế nào thì đo đủ diện tích cho bà. Trước đây đất là do cha bà đứng tên, sau đó sang tên lại cho anh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

+ Ông Nguyễn Văn Tr trình bày:

Ông là em ông L, anh bà C. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ông mua của bà Ng vào năm 1981, có chiều ngang 15m, chiều dài 70m; còn phần đất của bà D, ông C là do cha bà D là ông Tư Đ mua của bà C cũng vào năm 1981, có chiều ngang 12m, chiều dài hông nhớ, sau đó ông Đ bán lại cho ông H và ông H1 mỗi người một phần ở phía sau cũng chỉ có 12m chiều ngang.

Trong năm 1981, ông cất nhà ở, đến năm 1990 ông cất lại nhà lớn hơn, cách nay hoảng 10 năm ông có làm chuồng gà chiều ngang hơn 2m, dài 3m giáp đất bà D, hông có ai tranh chấp hay ngăn cản. Theo ông biết tại mốc M8, M9 theo sơ đồ đo đạc là ngay ranh đất. Phần đất mà ông đang quản l sử dụng hiện ông C đứng tên quyền sử dụng đất, ông sẽ làm đơn hởi iện gửi Tòa án sau.

+ Ông Lâm Văn B trình bày:

Ông là chồng bà D, ông thống nhất theo lời trình bày của bà D, ông yêu cầu xác định ranh đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông C được cấp.

Tại bản án DSST số: 22/2022/DSST ngày 11/5/2022 của Tòa án huyện H tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị C. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của bà Nguyễn Thị C tại thửa 225 với đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị D tại thửa 231 là đường thẳng nối từ mốc M25-M26-M27, đất tại ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn L. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Nguyễn Văn L tại thửa 225, 226 với đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị D tại thửa 231 là đường thẳng nối từ mốc M27-M30-M31-M32-M33, đất tại ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ranh được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến hông gian, tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật ( èm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/01/2021, sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 21/01/2021, Sơ đồ xác định vị trí thửa đất ngày 29/3/2022 và ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H.

Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai đăng k điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện tích thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị C về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Nguyễn Văn C đứng tên có số vào sổ H00499, số phát hành AC881419 ngày 17/6/2005.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng cộng 3.443.000đ. Ông L, bà C phải chịu ½ chi phí này, ông L, bà C đã tạm ứng và chi xong. Buộc bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm trả lại cho bà C, ông L 1.721.500đ.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn C mỗi người chịu 300.000đ.

Bà Nguyễn Thị C chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0001345 ngày 31/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Miễn tiền án phí cho ông Nguyễn Văn L theo quy định.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền háng cáo và thời hạn theo luật định.

- Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 23/5/2022 ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị C có đơn háng cáo hông đồng bản án sơ thẩm.

Ngày 25/5/2022, Viện trưởng, Viện iểm sát nhân dân huyện H có Quyết định số 02/QĐ-VKS- DS háng nghị bản án sơ thẩm số 22/2022/DS-ST, ngày 11/5/2022 của Tòa án huyện H, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn. Xác định ranh giới giữa nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng nối các mốc M9, M14, M16, M17 là ranh giới chung giữa các bên theo sơ đồ ngày 21/01/2021. L do: Viện iểm sát cho rằng việc ông L, bà C yêu cầu xác định ranh giới giữa hai bên theo các mốc M9, M14, M16, M17 là có cơ sở theo lời hai của người làm chứng là bà T con bà C cho rằng khi bán đất cho cha mẹ bà D, ông C chiều ngang chỉ có 12m.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông L, bà C v n giữ yêu cầu háng cáo.

Viện iểm sát v n giữ háng nghị.

- Ý iến của trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm. Xác định ranh giới giữa nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng nối các mốc M9, M14, M16, M17 là ranh giới chung giữa các bên theo sơ đồ ngày 21/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H.

- Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu iến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ hi thụ l vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn háng cáo của ông L, bà C; chấp nhận háng nghị số 02/QĐ-VKS-DS, ngày 25/5/2022 của Viện trưởng Viện iểm sát huyện H, sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn. Xác định ranh giới giữa nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng nối các mốc M9, M14, M16, M17 là ranh giới chung giữa các bên theo sơ đồ ngày 21/01/2021.

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ ết quả tranh luận tại phiên toà.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau hi án sơ thẩm xử, ông L, bà C có đơn háng cáo; Viện trưởng Viện iểm sát huyện H có Quyết định háng nghị. Xét yêu cầu háng cáo của ông L, bà C; Kháng nghị của Viện iểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc phần đất của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị C là của cụ Nguyễn Văn L1 và cụ Nguyễn Thị H là cha mẹ của ông L, bà C mua của cụ Nguyễn Thị Ng vào năm 1981 có diện tích chiều ngang 15m chiều dài 70m thuộc thửa đất 225, 226 tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại ấp 2, xã T, huyện H, phần đất này ông L, bà C chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị D là của cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Võ Thị C là cha mẹ của ông C, bà D mua của cụ Nguyễn Thị C có chiều ngang đầu ngoài 13,5m chiều ngang đầu trong giáp đường nước, nay là đường đal là 15m cũng vào năm 1981. Năm 2005 hộ ông Nguyễn Văn C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 445m2 thuộc thửa 231 tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại ấp 2, xã T, huyện H. Phần đất của ông L, bà C thuộc thửa 225, 226 tiếp giáp với phần đất của bà D, ông C.

[2] Xét yêu cầu của ông L yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất của ông với thửa đất của ông C, bà D là đoạn thẳng nối từ mốc M8-M9-M14 và ông yêu cầu bà D, ông C trả lại phần đất bị lấn chiếm có diện tích 35,6m2 thuộc một phần thửa 225, 226, 231 tờ bản đồ số 11 và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông C.

Đối với yêu cầu của bà C yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của bà với thửa đất của bà D, ông C là đoạn thẳng nói từ mốc M14-M16-M17 và bà yêu cầu bà D, ông C trả lại phần đất bị lấn chiếm có diện tích 19,6m2 thuộc một phần thửa 225, 231 tờ bản đồ số 11 và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông C đối với phần đất bị lấn chiếm.

Bà D, ông C không đồng theo yêu cầu của ông L, bà C. Bà D, ông C yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa phần đất của bà, ông C với phần đất của ông L, bà C là những đoạn thẳng nối từ mốc M7-M12-M18. Đối với các yêu cầu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ ông C vào ngày 17/6/2005 thể hiện chiều ngang giáp đường nước, nay là đường đal có chiều ngang 15m, chiều ngang giáp đất anh Nguyễn Văn H 13,5m, nhưng thực tế bà D, ông C chỉ sử dụng diện tích chiều ngang đầu ngoài giáp đất anh H là 11,85m chiều ngang đầu trong giáp với đường đal là 12m và bà D cũng đã chôn trụ đá từ mốc M8 và đã làm hàng rào bằng hàng cây gòn từ mốc M8 đến các mốc M9, M13, M15, M6 từ năm 1981 cho đến nay, phía bên ông L, bà C cũng hông có iến hay tranh chấp. Theo bà D trình bày: Việc bà làm hàng rào bằng hàng gòn hông ngay ranh đất giữa bà với bên bà C, ông L, mà đất của bà v n còn nằm tiếp giáp với đất của ông L, bà C, nhưng bà không biết rõ diện tích ngang bao nhiêu, bà thừa nhận hi ông , bà C cất nhà và trồng các cây như: cây xưa, dừa, me tây, cũng như ông Tr cất chuồng gà thì bà có biết nhưng hông tranh chấp hay ngăn cản do tình nghĩa lối xóm, vì lúc đó bà cũng chưa iểm tra lại quyền sử dụng đất do hộ ông C đứng tên (giấy ông C giữ) diện tích cấp là bao nhiêu nên bà chưa biết đất của bà ngang dài tới đâu, nhưng bà thừa nhận lối đi giáp ranh với đất của ông L, bà C từ mốc M17 đến mốc M18, vì lối đi này đã có trước hi hai bên mua đất, nhưng thực tế lối đi này hi bán bên ông T cũng đã giao cho cha mẹ bà sử dụng.

[3] Theo Công văn số 953/UBND-HC ngày 07/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện H cung cấp thông tin như sau: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C là đúng trình tự, thủ tục theo quy định, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông có ghi nhận trong hộ có bao nhiêu thành viên, hông có đo đạc thực tế và hông phát sinh tranh chấp và theo Công văn số 868/CNVPĐKĐĐ có èm theo sơ đồ phần đất tranh chấp giữa hai bên do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H quản l và cung cấp thông tin được thể hiện như sau: Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 225, 226 với thửa 231 tờ bản đồ số 11 do Nhà nước quản l là đoạn thẳng từ mốc M8 trở về phía mốc M7 có ích thước 0,4m; từ mốc M9 trở về phía mốc M6 có ích thước 0,4m; từ mốc M14 trở về phía mốc M13 có ích thước 0,5m; từ mốc M17 trở về phía mốc M18 có ích thước l,2m.

Do đó, việc bà D xác định ranh đất giữa bà, ông C với đất ông L, bà C từ mốc M7, M6, M12, M18 là chưa có căn cứ theo sơ đồ mà Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai đã quản l và cung cấp cho Tòa án, nên án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông L, bà C xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên theo các mốc M25-M26-M27-M30-M31-M32-M33 và án sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu hủy một phần diện tích trong giấy chứng nhận do hộ ông C đứng tên với l do diện tích tranh chấp ranh giới giữa hai bên nhỏ nên các bên có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản l đất đai để điều chỉnh cho phù hợp là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những nhận định trên, xét đơn háng cáo của ông L, bà C; háng nghị của Viện trưởng Viện iểm sát huyện H là hông có căn cứ, nên Hội đồng xét xử hông chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông L, bà C phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng do ông L là người cao tuổi, căn cứ điểm đ, hoản 1, Điều 12, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí cho ông L theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên chưa cụ thể, rõ ràng nên điều chỉnh cách tuyên cho phù hợp.

[4] Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp l bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm. Xác định ranh giới giữa nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng nối các mốc M9, M14, M16, M17 là ranh giới chung giữa các bên theo sơ đồ ngày 21/01/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện H. Xét đề nghị của Trợ giúp viên pháp l là chưa phù hợp, nên không chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn háng cáo của ông L, bà C; chấp nhận háng nghị số 02/QĐ-VKS- DS, ngày 25/5/2022 của Viện trưởng Viện iểm sát huyện H, sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn. Xác định ranh giới giữa nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng nối các mốc M9, M14, M16, M17 là ranh giới chung giữa các bên theo sơ đồ ngày 21/01/2021. Xét đề nghị của đại diện Viện iểm sát là chưa phù hợp pháp luật nên không chấp nhận.

Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ hoản 1 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ, hoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận đơn háng cáo của bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn L.

2. Không chấp nhận Quyết định háng nghị số 02/QĐ-VKS-DS, ngày 25/5/2022 của Viện trưởng Viện iểm sát huyện H.

3. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 22/2022/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H.

4. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị C. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của bà Nguyễn Thị C tại thửa 225 với đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị D tại thửa 231 là đường thẳng nối từ mốc M25-M26-M27, đất tọa lạc tại ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

5. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn L. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông Nguyễn Văn L tại thửa 225, 226 với đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị D tại thửa 231 là đường thẳng nối từ mốc M27-M30-M31-M32-M33, đất tọa lạc tại ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến hông gian, tài sản của các bên lấn chiếm qua ranh giới quyền sử dụng đất phải tháo dở, di dời theo quy định của pháp luật ( èm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/01/2021, sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 21/01/2021, Sơ đồ xác định vị trí thửa đất ngày 29/3/2022 và ngày 10/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ý đất đai huyện H.

Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng k , điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện tích thực tế đang sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai.

6. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông Nguyễn Văn C đứng tên có số vào sổ H0499, số phát hành AC881419 ngày 17/6/2005.

7. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng cộng 3.443.000đ. Ông L, bà C phải chịu ½ chi phí, ông L, bà C đã tạm ứng và đã chi xong. Buộc bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm trả lại cho bà C, ông L 1.721.500đ.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn C mỗi người chịu 300.000đ.

Bà Nguyễn Thị C chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003145 ngày 31/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Miễn tiền án phí cho ông Nguyễn Văn L theo quy định.

9. n phí phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ tiền án phí phúc thẩm, được hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí háng cáo theo biên lai thu số 0003897, ngày 23/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H (bà C đã nộp xong).

Miễn tiền án phí cho ông L.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ