vanban.org

Bản án 452/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/11/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Trụ đối với Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO).

Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO) phải thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ nợ gốc là 24.822.068 đồng, nợ lãi từ ngày 27.3.2008 đến ngày xét xử sơ thẩm là 47.446.446 đồng. Tổng cộng là 72.268.514 đồng. 3 Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "N.D.T - Công ty Bưu điện"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Trụ đối với Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO).
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Dân sự; Điều 157 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 452/2022/DS-PT
Ngày: 16/11/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay vốn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Liên Anh

Các thẩm phán:

Ông Mai Tiến Dũng

Ông Lê Thanh Bình

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thùy Trang, Thư ký

Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Ông Lê Đức

Phương, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 351/2022/TLPT-DS ngày 6/10/2022 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay vốn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2022/DSST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 394/2022/QĐ-PT ngày 10/10/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 452/2022/QĐPT- HPT ngày 28/10/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy Trụ, sinh năm 1952.

HKTT và trú tại: C17 – Nơ 3 – Khu đô thị mới Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV SLC.

Trụ sở: BT16A3 – 12 Làng Việt Kiều Châu Âu, Khu đô thị mới Mỗ Lao, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 01/3/2021)

Người đại diện theo pháp luật: Luật sư Phạm Hồng Sơn – Giám đốc

Ông Phạm Hồng Sơn cử Luật sư Trần Văn Việt và Bùi Thu Hằng tham gia tố tụng (Quyết định ngày 17/6/2022)

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO)

Trụ sở: Số 82 (địa chỉ cũ số 38) phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Tầng 17 Tòa nhà MobiFone số 5 ngõ 82 Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Phú Bình, Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền:

- Ông Trịnh Quang Chiến, sinh năm 1966.

Trú tại: Số 165, ngõ 173 đường Hoàng Hoa Thám, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

- Ông Bùi Hoài Thanh, sinh năm 1986.

Trú tại: Số 14 hẻm 267/2/16 đường Hoàng Hoa Thám, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội. (Văn bản ủy quyền ngày 03/3/2022)

Do có kháng cáo của ông Thịnh Quang Chiến và ông Bùi Hoài Thanh là đại diện theo ủy quyền của bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Duy Trụ nguyên là Trưởng phòng khoa học kỹ thuật của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện. Năm 2008 khi Công ty gặp khó khăn cần huy động vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, ông đã cho Công ty vay vốn bằng khoản tiền lương mà Công ty nợ.

Ngày 26.3.2008, giữa ông Nguyễn Duy Trụ và Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện ký Hợp đồng vay vốn số 60/2008/PTICC-HĐVV, số tiền vay 84.318.964 đồng, mục đích vay là phục vụ sản xuất kinh doanh theo phương án huy động vốn năm 2008, biện pháp bảo đảm là tín chấp, thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 27.3.2008. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ 27.3.2008 đến 26.3.2009 là 8,5%/năm. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ 27.3.2009 sẽ áp dụng theo lãi suất trái phiếu Chính Phủ (do Ngân hàng Phát triển Nhà nước Việt Nam phát hành loại thời hạn 5 năm) kỳ gần nhất liền trước ngày 27.3.2009. Việc thay đổi lãi suất sẽ được PTICC thông báo bằng văn bản qua đường thư, fax hoặc gửi trực tiếp đến Bên Cho vay. Trường hợp PTICC không có thông báo thì lãi suất áp dụng trong thời kỳ trả nợ tiếp theo được coi là không điều chỉnh và bằng lãi suất của kỳ hạn liền trước.

Tiền gốc, lãi được thanh toán làm 02 đợt:

- Đợt 1: Ngày 27.3.2009 thanh toán 50% nợ gốc + lãi

- Đợt 2: Ngày 27.3.2010 thanh toán hết nợ gốc + lãi

Năm 2012, hai bên ký Phụ lục 01- Hợp đồng vay vốn Cán bộ công nhân viên để xác nhận lại số tiền vay giảm xuống vì giảm doanh thu quyết toán công ty trong giai đoạn 2008-2010 do các cơ quan thanh tra kiểm tra xác định lại quỹ tiền lương, số tiền lương công ty phải trả cho người lao động từ 2004-2007 và trừ thuế thu nhập cá nhân, các quỹ người lao động phải nộp năm 2008. Phụ lục xác định số tiền gốc vay là 56.333.610 đồng, lãi phải trả đến 31.12.2011, dự kiến trả hết nợ gốc và lãi vào 31.12.2014.

Công ty đã trả ông Nguyễn Duy Trụ 31.511.542 đồng nợ gốc, cụ thể

- Ngày 10.10.2012: Công ty trả 3.000.000 đồng.

- Ngày 24.10.2012: Công ty trả 8.267.000 đồng.

- Ngày 31.12.2014: Công ty trả 4.507.000 đồng.

- Ngày 06.5.2015: Công ty trả 4.056.000 đồng.

- Ngày 02.10.2015: Công ty trả 5.475.542 đồng.

- Ngày 30.12.2015: Công ty trả 6.206.000 đồng.

Công ty còn nợ gốc là 24.822.068 đồng.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01, Công ty không thanh toán đúng thỏa thuận qua việc chỉ trả một phần gốc và trả không đúng hạn, không trả lãi vay.

Ngày 20.10.2019, Công ty gửi Công văn (không số) yêu cầu ông Nguyễn Duy Trụ mang Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 đến đối chiếu, ký xác nhận vào bảng số liệu nợ gốc tính đến ngày 30.8.2019 do Công ty lập. Công ty cam kết thanh toán cho các hợp đồng hoàn hiện thanh lý trước ngày 12.12.2019. Tuy nhiên sau đó Công ty không thực hiện thanh toán.

Nay ông Nguyễn Duy Trụ khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO) phải thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ nợ gốc là 24.822.068 đồng, nợ lãi từ 27.3.2008 đến 31.12.2011 (đã được xác nhận tại Phụ lục 01 năm 2012) là 18.275.563 đồng, nợ lãi từ 01.01.2012 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 8,5%/năm là 29.170.883 đồng. Tổng cộng là 72.268.514 đồng.

Ngoài ra nguyên đơn không còn yêu cầu gì khác.

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

- Tại đơn đề ngày 04.4.2022, ông Trịnh Quang Chiến và ông Bùi Hoài Thanh trình bày: Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc VNPT. Năm 2016 sau cổ phần hóa, Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện được chuyển giao từ doanh nghiệp Nhà nước thành doanh nghiệp tư nhân. Theo hồ sơ còn lưu lại tại Công ty, năm 2008 Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện thời điểm đó là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc VNPT đã ký Hợp đồng vay vốn với một số cán bộ, nhân viên trong Công ty, hợp đồng vay có thời hạn 02 năm từ tháng 10.2008 đến tháng 10.2010. Năm 2016 sau khi chuyển quyền sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước sang doanh nghiệp tư nhân. Ban lãnh đạo Công ty nhận thấy có nhiều dấu hiệu bất thường tại các hợp đồng vay vốn nói trên như:

- Không có phiếu nộp tiền về Quỹ của Công ty;

- Dòng tiền vay của cán bộ, nhân viên không biết đi đâu, sử dụng vào mục đích gì.

- Nhiều hợp đồng ký trong giai đoạn này được ký kết nhưng không được thực hiện.

- Nhiều hợp đồng ký kết khi chưa có chủ trương đầu tư nhưng đều được kê khai doanh số.

Vì các lý do nêu trên, Công ty đã tạm dừng chi trả các khoản lãi, vốn để điều tra xác minh. Trong quá trình điều tra, xác minh Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện nghi ngờ các Hợp đồng vay vốn giữa Công ty và ông/bà nêu trên là Hợp đồng giả tạo, Ban lãnh đạo cũ của Công ty trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2015 có dấu hiệu cấu kết với một số cá nhân trong Công ty để tạo dựng chứng từ giả với mục đích chiếm đoạt tài sản Nhà nước và các mục đích khác như: Khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp; hợp thức hóa các khoản tiền tồn quỹ công ty từ các Hợp đồng kinh tế không có thật; tăng nguồn vốn của Công ty để lấy thành tích và trục lợi. Công ty đã nhiều lần mời các cá nhân liên quan đến Hợp đồng vay vốn đến làm việc và yêu cầu xuất trình các giấy tờ liên quan như phiếu thu, giấy nộp tiền về quỹ của công ty để chứng minh đây là khoản nợ có thật nhưng các cá nhân này đều trốn tránh, không đến làm việc và không cung cấp được giấy tờ nêu trên.

Công ty đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác minh khoản vay theo hợp đồng vay vốn, xác minh có dấu hiệu tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước tại Công ty giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015.

- Tại đơn đề ngày 05.4.2022, ông Trịnh Quang Chiến và ông Bùi Hoài Thanh đề nghị vắng mặt tại buổi làm việc ngày 07.4.2022 do bị nhiễm Covit.

- Tại đơn đề ngày 20.4.2022 ông Trịnh Quang Chiến và ông Bùi Hoài Thanh đề nghị đưa ông Hoàng Ứng Huyền nguyên Giám đốc Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện đã ký Hợp đồng vay vốn tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông Trịnh Quang Chiến và ông Bùi Hoài Thanh đều vắng mặt, không nộp tài liệu chứng cứ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Trụ đối với Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO).

2. Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO) phải thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ nợ gốc là 24.822.068 đồng, nợ lãi từ ngày 27.3.2008 đến ngày xét xử sơ thẩm là 47.446.446 đồng. Tổng cộng là 72.268.514 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Thịnh Quang Chiến và bà Bùi Hoài Thanh kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đơn trình bày: Công ty có chủ trương vay vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên việc vay vốn của các cá nhân trong đó có ông Trụ là không có thật vì Hợp đồng vay vốn không phù hợp với quy định của pháp luật. Công ty không có phiếu thu tiền do ông Trụ nộp. Ông Trụ cũng không xuất trình được chứng từ về việc nộp tiền vào công ty. Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1Điều 308 BLTTDS giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Thịnh Quang Chiến và bà Bùi Hoài Thanh nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung:

Ngày 26.3.2008 ông Nguyễn Duy Trụ và Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng vay vốn số 60/2008/PTICC-HĐVV ngày 26.3.2008 số tiền vay 84.318.964 đồng, mục đích vay là phục vụ sản xuất kinh doanh theo phương án huy động vốn năm 2008, biện pháp bảo đảm là tín chấp, thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 27.3.2008. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ 27.3.2008 đến 26.3.2009 là 8,5%. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ 27.3.2009 sẽ áp dụng theo lãi suất trái phiếu Chính Phủ (do Ngân hàng Phát triển Nhà nước Việt Nam phát hành loại thời hạn 5 năm) kỳ gần nhất liền trước ngày 27.3.2009. Việc thay đổi lãi suất sẽ được PTICC thông báo bằng văn bản qua đường thư, fax hoặc gửi trực tiếp đến Bên Cho vay. Trường hợp PTICC không có thông báo thì lãi suất áp dụng trong thời kỳ trả nợ tiếp theo được coi là không điều chỉnh và bằng lãi suất của kỳ hạn liền trước.

Tiền gốc, lãi được thanh toán làm 02 đợt:

- Đợt 1: Ngày 27.3.2009 thanh toán 50% nợ gốc + lãi

- Đợt 2: Ngày 27.3.2010 thanh toán hết nợ gốc + lãi

Năm 2012, hai bên ký Phụ lục 01 – Hợp đồng vay vốn cán bộ công nhân viên năm 2012 xác định số tiền ông Nguyễn Duy Trụ đã cho Công ty vay là 56.333.610 đồng, xác định lãi phải trả đến 31.12.2011, Công ty dự kiến trả hết nợ gốc và lãi vào 31.12.2014.

Tại Công văn (không số)/CV-PTICO ngày 20.10.2019, Công ty xác nhận đã trả cho nguyên đơn 31.511.542 đồng nợ gốc, cụ thể:

- Ngày 10.10.2012: Công ty trả 3.000.000 đồng.

- Ngày 24.10.2012: Công ty trả 8.267.000 đồng.

- Ngày 31.12.2014: Công ty trả 4.507.000 đồng.

- Ngày 06.5.2015: Công ty trả 4.056.000 đồng.

- Ngày 02.10.2015: Công ty trả 5.475.542 đồng.

- Ngày 30.12.2015: Công ty trả 6.206.000 đồng.

Công ty còn nợ gốc là 24.822.068 đồng.

Quá trình vay vốn, Công ty chưa thanh toán lãi cho ông Nguyễn Duy Trụ.

Ông Nguyễn Duy Trụ xác nhận Công ty đã thanh toán 31.511.542 đồng nợ gốc, còn 24.822.068 đồng nợ gốc chưa thanh toán như theo công văn (không số)/CV-PTICO ngày 20.10.2019 của Công ty là đúng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty phải thanh toán nợ gốc là 24.822.068 đồng:

Theo nội dung đơn đề nghị ngày 04.4.2022 phía Công ty cho rằng Hợp đồng vay vốn là giả tạo, Tòa án yêu cầu giao nộp tài liệu để chứng minh nhưng Công ty không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để xem xét. Hơn nữa, quan điểm nêu trên của Công ty không phù hợp với chính nội dung tại công văn (không số)/CV-PTICO ngày 20.10.2019 Công ty gửi ông Nguyễn Duy Trụ. Theo đó Công ty xác nhận số nợ gốc đã thanh toán và số nợ gốc chưa thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ tại Bảng số liệu gốc vay theo hợp đồng vay vốn tính đến ngày 30.8.2019. Công ty đề nghị đưa ông Hoàng Ứng Huyền - nguyên giám đốc Công ty là người ký hợp đồng vay vốn với nguyên đơn tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01, ông Hoàng Ứng Huyền ký hợp đồng vay vốn với ông Nguyễn Duy Trụ với tư cách là người đại diện của Công ty, không phải với tư cách cá nhân do đó không cần thiết đưa ông Hoàng Ứng Huyền tham gia tố tụng.

Xét thấy Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 được ký kết giữa Công ty với ông Nguyễn Duy Trụ là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên xác định là hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia. Do Công ty vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bản án sơ thẩm căn cứ Khoản 2 Điều 155, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu đòi nợ gốc của ông Nguyễn Duy Trụ, buộc Công ty thanh toán 24.822.068 đồng nợ gốc cho ông Nguyễn Duy Trụ là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tính lãi của số tiền cho vay: Như đã phân tích ở trên Công ty phải có trách nhiệm trả lãi theo Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 đã ký. Lãi vay từ 27.3.2008 đến 31.12.2011 đã được các bên thống nhất tại Phụ lục 01 là 18.275.563 đồng. Lãi vay từ ngày 01.01.2012 đến ngày xét xử tính theo mức lãi suất 8,5%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa trả là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Buộc Công ty thanh toán nợ lãi cho ông Nguyễn Duy Trụ là 29.170.883 đồng, cụ thể:

- Từ ngày 01.01.2012 đến ngày 09.10.2012 là:

56.333.610 đồng x 0,0002329%/ngày x 283 ngày = 3.712.616 đồng.

- Từ ngày 10.10.2012 đến ngày 23.10.2012 là:

53.333.610 đồng x 0,0002329%/ngày x 14 ngày = 173.882 đồng.

- Từ ngày 24.10.2012 đến ngày 30.12.2014 là:

45.066.610 đồng x 0,0002329%/ngày x 799 ngày = 8.374.981 đồng.

- Từ ngày 31.12.2014 đến ngày 05.5.2015 là:

40.559.610 đồng x 0,0002329%/ngày x 126 ngày = 1.190.119 đồng.

- Từ ngày 06.5.2015 đến ngày 01.10.2015 là:

36.503.610 đồng x 0,0002329%/ngày x 149 ngày = 1.266.625 đồng.

- Từ ngày 02.10.2015 đến ngày 29.12.2015 là:

31.028.068 đồng x 0,0002329%/ngày x 89 ngày = 643.089 đồng.

- Từ ngày 30.12.2015 đến ngày 14.7.2022 là:

24.822.068 đồng x 0,0002329%/ngày x 2389 ngày = 13.809.571 đồng.

Tổng số tiền lãi Công ty phải thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ tạm tính đến ngày 14.7.2022 là 47.446.446 đồng.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí kháng cáo đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số số 112/2022/DS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 155, Điều 157, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;

- Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Trụ đối với Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO).

2. Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTICO) phải thanh toán cho ông Nguyễn Duy Trụ nợ gốc là 24.822.068 đồng, nợ lãi từ ngày 27.3.2008 đến ngày xét xử sơ thẩm là 47.446.446 đồng. Tổng cộng là 72.268.514 đồng.

3 Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0070553 ngày 05/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện phải chịu 3.613.425 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ