- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP)-Quyết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) đối với ông Nguyễn Trọng Q về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 450/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hồng Ngọc.
2. Ông Trần Hữu Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 493/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 202, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2025/QĐXXST-DS ngày 25/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 879/2025/QĐST-DS ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP); địa chỉ: A Cách mạng T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên;
Người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 243/GUQ-CEP ngày 23/4/2024): Ông Phan Trung H; ông Nguyễn Thanh T1 và bà Đỗ Thị T2; vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1956; địa chỉ: I, Tổ B, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai); nơi ở hiện nay: Tổ B, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai); vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/4/2023, thông qua Ủy ban nhân dân phường L, Ông Nguyễn Trọng Q có vay tại Tổ chức Tài chính vi mô CEP – Chi nhánh B số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất cho vay tính theo dư nợ ban đầu là 0,76%/tháng, thời hạn 12 tháng. Trong quá trình hoàn trả ông Nguyễn Trọng Q không thực hiện theo đúng hợp đồng, tính đến ngày 25/8/2025 Ông Nguyễn Trọng Q đã hoàn trả số tiền vốn là 34.900.000đồng (ba mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng), đã hoàn trả số tiền lãi 2.660.000 đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Số tiền còn nợ đến nay bao gồm nợ vốn 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Tổ chức Tài chính vi mô CEP – Chi nhánh B đã nhiều lần cử nhân viên đến nhà để làm việc và ông Nguyễn Trọng Q đã cam kết nhiều lần nhưng không thực hiện cam kết.
Tổ chức Tài chính vi mô CEP đề nghị Tòa Án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tuyên: buộc ông Nguyễn Trọng Q phải thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô số tiền gốc: 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Về án phí: Bị đơn chịu theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Nguyễn Trọng Q: Quá trình giải quyết vụ án ông Q đã được Tòa án triệu tập, tống đạt thông báo thụ lý và các căn bản tố tụng của Tòa án cho ông Q nhưng ông Q vẫn không lên Tòa làm việc nên không có lời khai
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên buộc ông Nguyễn Trọng Q phải thanh toán cho Tổ chức tài chính vi mô tổng số tiền 17.000.000đồng (mười bảy triệu đồng); trong đó: số tiền gốc: 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Trung H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trọng Q đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo văn bản xác minh ngày 06/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai), bị đơn ông Nguyễn Trọng Q cư trú tại phường L, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tư cách tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) khởi kiện về việc yêu cầu ông Nguyễn Trọng Q phải thanh toán tiền nợ gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) là nguyên đơn, ông Nguyễn Trọng Q là bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
. Xét yêu cầu tiền nợ gốc: Căn cứ hợp đồng vay vốn ngày 03/4/2023 thể hiện ông Nguyễn Trọng Q có vay tại Tổ chức Tài chính vĩ mô CEP – Chi nhánh B số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất cho vay tính theo dư nợ ban đầu là 0,76%/tháng, bên vay trả nợ gốc định kỳ hàng tháng một lần, kỳ trả nợ gốc đầu tiên là ngày 25/4/2023, kỳ trả nợ gốc cuối là ngày 25/3/2024, số tiền gốc trả mỗi kỳ là 4.170.00đồng, trả trong 11 kỳ đầu, số tiền trả gốc kỳ cuối là 4.130.000đồng; bên vay trả lãi định kỳ hàng tháng, kỳ trả lãi đầu tiên là ngày 25/4/2023, kỳ trả lãi cuối cùng là ngày trả nợ gốc cuối cùng, số tiền trả lãi mỗi kỳ là 380.000đồng và trả trong 12 tháng. Quá trình vay, tính đến ngày 25/8/2025 ông Nguyễn Trọng Q đã hoàn trả số tiền vốn là 34.900.000đồng (ba mươi tư triệu chín trăm nghìn đồng) và số tiền lãi 2.660.000 đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Tổng số tiền ông Q còn nợ là 17.000.000đồng (mười bảy triệu đồng), trong đó: Nợ vốn 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng) nhưng ông Q không thực hiện trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, mặc dù Tổ chức Tài chính vi mô CEP – Chi nhánh B đã làm việc và yêu cầu ông Q trả nợ như cam kết. Như vậy, quá trình thực hiện các hợp đồng trên, ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký. Do đó, việc Tổ chức tài chính vi mô CEP khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Q phải trả số tiền nợ gốc còn lại của hợp đồng vay vốn là 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Q nhưng ông Q vẫn cố tình vắng mặt không lên Tòa để trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện nên mặc nhiên được xem là ông Q thừa nhận việc ký hợp đồng và quá trình vay, trả nợ như trên với Tổ chức tài chính vi mô CEP.
. Xét về yêu cầu tiền nợ lãi: Lãi suất theo hợp đồng vay vốn ngày 03/4/2023 thì lãi suất trong hạn là 0,76%/tháng. Sự thỏa thuận về mức lãi suất trên của các bên tham gia giao dịch là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật về lãi suất. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn Tổ chức tài chính vi mô CEP đối với bị đơn ông Nguyễn Trọng Q với số tiền lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm, buộc ông Nguyễn Trọng Q có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với đề nghị của đại diệnViện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai phát biểu tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Nguyễn Trọng Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) đối với ông Nguyễn Trọng Q về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Nguyễn Trọng Q phải trả cho Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) tổng số tiền 17.000.00đ (mười bảy triệu đồng); trong đó: Nợ gốc là 15.100.000đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) và nợ lãi 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 01/10/2025) ông Nguyễn Trọng Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trọng Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Hoàn trả cho Tổ chức Tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 487.500đồng (bốn trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0006730 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai).
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Nai (01);
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa
- VKSND khu vực 1 – Đồng Nai (02);
- THADS tỉnh Đồng Nai(01);
- Các đương sự (4);
- Lưu HS-VP(03).
Lê Thị Nguyệt THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (01); - VKSND TP. Biên Hòa (02); - Chi cục THADS TP . Biên Hòa (01); - Các đương sự (4); - Lưu HS-VP(03). | Lê Thị Nguyệt |