vanban.org

Bản án 45 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Hà Thị X ® îc ly h«n với anh Võ Văn V.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị X và anh Võ Văn V chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Võ Hoàng H, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 08/10/2015 cho chị Hà Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Hà Thị X ® îc ly h«n với anh Võ Văn V.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN BÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
B¶n ¸n sè: 45/2024/ HNGĐ - ST
Ngµy 30 tháng 9 năm 2024
Về việc: “ Ly h«n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Nh©n danh
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn v¨n bµn- Lµo cai.
Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Đỗ Thị Lựa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Trọng Trung
Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Thị Mới- Kiểm sát viên.
Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 74/2024/TLST-HNGĐ Ngày
19/6/2024. VÒ viÖc “ Ly h«n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXX ST- HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và
quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/Q§ST - HNGĐ ngày 13/9/2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị X, sinh năm 1984.
Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn VTh, xã VL, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt
có lý do.
Bị đơn: Anh Võ Văn V, sinh năm 1980.
không có lý do.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của chị Hà Thị X trình bày, có yêu cầu: Năm 2010, chị và anh V tự nguyện chung sống với nhau theo phong tục tập quán. Đến ngày 09/10/2013 chị tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Võ Văn V t¹i UBND xã Văn Sơn (nay là xã Võ Lao), huyện Văn Bàn. Hạnh phúc được khoảng 10 năm đến đầu năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị và anh V bất đồng quan điểm, gay gắt nhất cuối vào năm 2021 đến nay đã sống ly thân, bỏ mặc không còn quan tâm, kinh tế của ai người đó quản lý, sử dụng và chấm dứt mối quan hệ tình cảm với anh V tính đến nay khoảng 03 năm nên không có thai với anh V. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn cách nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không được Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh V. Đề nghị ® îc ly h«n víi anh Võ Văn V.

Về con chị Hà Thị X xác định: Chị và anh V có 02 con chung là cháu Võ Hoàng H, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 08/10/2015. Hiện cháu H, cháu N đang do chị nu«i dưỡng, gi¸o dôc. Nay, chị đề nghị Tòa giải quyết giao cháu H, cháu N cho chị trùc tiÕp trông nom, ch¨m sãc, nu«i dưỡng, gi¸o dục ®Õn khi trưëng thµnh đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con cùng chị đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nghĩa vụ thanh toán: Chị Hà Thị X xác định, chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.

Về phía bị đơn anh Võ Văn V: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã thông báo và phổ biến điều luật về các quyền, nghĩa vụ, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) cho anh V và giao văn bản tố tụng của tòa cho anh V. Tuy nhiên, anh V tự tước đi các quyền và nghĩa vụ, không tham gia tố tụng, không ghi ý kiến trình bày quan điểm về mối quan hệ hôn nhân, nuôi con, tài sản đối với yêu cầu khởi kiện của chị X để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh V. Anh V đã được biết chị X khởi kiện về ly hôn, về giao con khi ly hôn với anh V.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn có ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự.

+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 1 §iÒu 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh. Khoản 4 §iÒu 147; Điều 227; Điều 228 Điều; 229 và Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hà Thị X ® îc ly h«n với anh Võ Văn V.

+ Về con: Giao cháu Võ Hoàng H, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 08/10/2015 cho chị Hà Thị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Võ Văn V không pH thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị X đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

+ Về án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu, chứng cứ cã trong hå s¬ vô ¸n đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Héi ®ång xÐt xö nhận định:

Về tố tụng dân sự: Chị Hà Thị X giao nộp và Tòa án xác minh thu thập được tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị X và anh V. Do anh V biết chị X yêu cầu giải quyết ly hôn với anh nên anh đi, không thông báo nơi ở mới và thông báo thời điểm trở về, cố ý giấu địa chỉ nơi ở mới, nơi làm việc hiện tại cho chị X không biết được địa chỉ mới của anh V nhằm né tránh việc ly hôn với chị X. Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý đều được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng và phổ biến về các quyền, nghĩa vụ để anh V biết đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ và trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị X. Sau đó anh V đi làm kinh tế thì văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết theo quy định đều là hợp lệ. Do anh V không tham gia tố tụng và không ghi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị X và không gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo, không có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền và lợi ích của mình từ khi thụ lý đến khi xét xử lần thứ nhất vào ngày 13/9/2024 và xét xử lần hai được mở lại ngày hôm nay anh V cố ý bỏ mặc không đến tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn tiến hành xét xử:

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị X xác định, Năm 2010 chị tự nguyện chung sống với anh V theo phong tục tập quán. Đến ngày 09/10/2013 chị và anh Võ Văn V tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Sơn (nay là xã Võ Lao), huyện Văn Bàn. Hạnh phúc được khoảng 10 năm đến đầu năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị X và anh V bất đồng quan điểm, thường xuyên điều qua tiếng lại, gay gắt nhất vào cuối năm 2021 chị bỏ mặc không còn quan tâm, kinh tế của ai người đó quản lý, sử dụng và chấm dứt mối quan hệ tình cảm với anh V tính đến nay khoảng 3 năm nên không có thai với anh V. Xét thấy, chị X thực sự không còn tình cảm với anh V, thời gian chung sống với nhau thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thiếu sự chăm lo, yêu thương quý trọng giữa vợ và chồng, làm rạn nứt tình cảm và anh V không hợp tác, không giao nộp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình, có thái độ bỏ mặc hôn nhân, không có thiện trí trong việc hướng đến mục đích đoàn tụ vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh V mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 §iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X đề nghị được ly hôn với anh Võ Văn V.

Về con: Chị Hà Thị X xác định: Đối với cháu Võ Hoàng H, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 08/10/2015. Mặc dù chị X và anh V không thỏa thuận về việc giao con khi ly hôn. Nay, chị X đề nghị tiếp tục giao cháu H, cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, thu nhập hàng tháng của chị X có nguồn thu nhập mỗi tháng 5.000.000đ đến 6.000.000đ có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con. Hiện cháu H, cháu N đã và đang do chị X chăm sóc, nuôi dưỡng đến nay đã được đảm bảo. Do vậy để đảm bảo việc học tập và phát triển về thể chất lẫn tinh thần và tránh sự xáo trộn trong cuộc sống cho cháu H, cháu N cần chấp nhận đề nghị của chị X giao cháu H, cháu N cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với qui định tại Điều 81,82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của các cháu, với việc tự nguyện giao con của đương sự khi ly thân.

Về tài sản, vay nợ: Chị Hà Thị X không yêu cầu và xác định kh«ng vay nî cơ quan, tổ chức, c¸ nh©n kho¶n nµo, kh«ng cho cơ quan, tổ chức vay nî vî chång. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bị đơn anh Võ Văn V không có yêu cầu phản tố và không có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Về sản chung, vay nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị X pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Võ Văn V không pH chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 §iÒu 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh. Khoản 4 §iÒu 147; Điều 227; Điều 228 Điều; 229 và Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Hà Thị X ® îc ly h«n với anh Võ Văn V.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị X và anh Võ Văn V chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Võ Hoàng H, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Võ Hoàng N, sinh ngày 08/10/2015 cho chị Hà Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về thực hiện nghÜa vô cÊp dưỡng nuôi con: Anh Võ Văn V không pH thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Hà Thị X .

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm non con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Hà Thị X ph¶i chÞu 300.000đ ( ba tr¨m ngh×n ®ång ) tiền ¸n phÝ Hôn nhận và gia đình s¬ thÈm. Nhưng được trõ vµo sè tiÒn t¹m øng ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm ®· nép lµ 300.000® t¹i biªn lai thu tiÒn sè 0001495 ngày 19/6/2024 cña Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn V¨n Bµn, tØnh Lµo Cai. Anh Võ Văn V không ph¶i chÞu tiÒn ¸n phÝ cÊp d©n sù s¬ thÈm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. N¬i nhËn

Cỡ chữ