vanban.org

Bản án 45 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Đào Phi H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đào Phi H. Về con chung: Giao con chung tên Đào Tiến Đ , sinh ngày 21/02/2020 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không yêu cầu bị đơn ông Đào Phi H cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phi H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Đào Phi H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N N

C N H

H CH N H

T N M

H N H

Đ

p - T do - H nh ph c

TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 45/2021/HNGĐ-ST Ngày 21 - 12 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

N C C N H

H CH N H

T N M

T

N NH N N H N H

, T NH B NH

N

- Thành ph n H i ng t s th m g m c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Th

phi n t a: Ông Lê Quang Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình D ng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 27/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1995. Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp Sông Mây, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Đào Phi H, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Số nhà 291, tổ 5B, ấp 1A, xã PH, huyện PG, tỉnh BD.

N

N Ụ N:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà T và ông H chung sống với nhau từ 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, việc chung sống của ông bà là hoàn toàn tự nguyện, làm đám cưới theo phong tục tập quán. Thời gian đầu ông bà sống chung hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và có nhiều mâu thuẫn không tìn được tiếng nói chung ngoài ra ông H thường xuyên uống rượu say về đánh đập bà. Do quá nhiều mâu thuẫn khiến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông H

- Về con chung: Bà T và ông H có 01 con chung tên Đào Tiến Đ , sinh ngày 21/02/2020. Hiện conchung đang do bà nuôi dưỡng nếu ly hôn bà có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung. nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Phi H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của bà T.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Đào Phi H; về con chung: Giao con chung Đào Tiến Đ , sinh ngày 21/02/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH C T

N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Đào Phi H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con mà bị đơn cư trú tại ấp 1A, xã PH, huyện PG, tỉnh BD và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phi H là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BS, huyện TrB, tỉnh ĐN ngày 23/4/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nguyên đơn cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập bà, nguyên đơn đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được nên xin ly hôn. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên HĐXX không có cơ sở để xem xét ý kiến của bị đơn.

Tại biên bản xác minh ngày 03/11/2021, đại diện UBND xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho biết mâu thuẫn gia đình giữa bà T và ông H là do vợ chồng cãi nhau nhưng không yêu cầu địa phương hoà giải. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, bản sao sổ hộ khẩu xác định bà Nguyễn Thị T và ông Đào Phi H có 01 con chung tên Đào Tiến Đ , sinh ngày 21/02/2020 HĐXX xét thấy con tên Đạt chưa đủ 36 tháng tuổi, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên HĐXX giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

T ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Đào Phi H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đào Phi H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Đào Tiến Đ , sinh ngày 21/02/2020 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không yêu cầu bị đơn ông Đào Phi H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đào Phi H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, bà Nguyễn Thị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Đào Phi H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án AA/2016/0043865 ngày 20/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N i nhận:

Cỡ chữ