- Tranh chấp gì? "Lê Trung H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H.
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 45/2026/QĐ-TA | Ninh Bình, ngày 24 tháng 9 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đinh Thành Nam.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
Ngày 24 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 38/2026/QĐ-TA, ngày 30 tháng 6 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Lê Trung H
Giới tính: Nam
Sinh ngày: 02/02/1999
Căn cước công dân số: 035099001821; ngày cấp: 07/5/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 10/12.
Nơi cư trú: Thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (Nay là Tòa án nhân dân khi vực 6 - Ninh Bình) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Con ông: Lê Trung C (đã chết) và bà: Đỗ Thị H1.
Anh H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Hữu C1 - Phó Trưởng công an xã B, tỉnh Ninh Bình.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình: Mai Thị Hồng Thu - Kiểm sát viên.
3. Những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp: Không.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ và văn bản đề nghị của Trưởng Công an xã B, tỉnh Ninh Bình đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H vì có hành vi vi phạm như sau:
Ngày 09/9/2026, Công an xã B tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với Lê Trung H, qua kiểm tra kết quả xét nghiệm cho thấy trong cơ thể Lê Trung H dương tính với ma túy đá. Cùng ngày, Công an xã B có Giấy đề nghị số 04/GĐN-XĐTTN (kèm hồ sơ, đối tượng, tài liệu có liên quan) gửi Công ty TNHH N và điều trị nghiện ma túy tự nguyện để xác định tình trạng nghiện ma túy của Lê Trung H.
Đến ngày 14/9/2026, Công ty TNHH N và điều trị nghiện ma túy tự nguyện có Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Lê Trung H là nghiện chất ma túy đá. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện của H, Công an xã B đã gửi thông báo cho Lê Trung H và đề nghị H đăng ký các hình thức cai nghiện ma túy tự nguyện, điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy.
Ngày 14/9/2026, Công an xã B tiếp tục làm việc với Lê Trung H và đề nghị H đăng ký hình thức cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng H có đơn từ chối, không đăng ký các hình thức cai nghiện ma túy tự nguyện. Hành vi của Lê Trung H đã vi phạm vào khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống ma tuý là “Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế” mặc dù đã được Công an xã B hướng dẫn, giải thích. Vì vậy, Công an xã B đã tiến hành lập biên bản làm việc và biên bản vi phạm đối với Lê Trung H về hành vi: “Không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” để làm căn cứ lập hồ sơ đề nghị đưa đi Cai nghiện bắt buộc.
Ngày 14/9/2026, Công an xã B đã lập hồ sơ, ban hành Thông báo số 10/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính. Lê Trung H tuy có nơi cư trú ổn định tại thôn T, xã B, tỉnh Ninh Bình nhưng đại diện gia đình là bà Đỗ Thị H1 đã từ chối quản lý H trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma tuý bắt buộc với lý do bà đã nhiều lần khuyên bảo H cai nghiên nhưng H không nghe.
Ngày 18/9/2026, Công an xã B, tỉnh Ninh Bình có văn bản số 04/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H theo Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng, chống ma tuý.
Tại phiên họp:
Đại diện công an xã B đề nghị đưa Lê Trung H đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Ninh Bình với thời hạn là 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình và các cơ quan chức năng đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H theo đề nghị của Công an xã B.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào lời trình bày của Đại diện Công an xã B, tỉnh Ninh Bình, ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 18/9/2026, Công an xã B, tỉnh Ninh Bình có văn bản số 04/ĐN-CBNN đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ bản tường trình và biên bản làm việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Trung H, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 14/9/2026 của Công an xã B thì H là người nghiện ma tuý nhưng có đơn đề nghị không đăng ký cai nghiện tự nguyện, tính đến thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu luật định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 35 Luật phòng chống ma tuý.
Về thủ tục: Lê Trung H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định mở phiên họp đúng quy định của pháp luật nhưng H đã có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án tiến hành phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về nội dung: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 14/9/2026 của Công an xã B; Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/9/2026 của Công ty TNHH N và điều trị nghiện ma túy tự nguyện và lời khai của Lê Trung H, thể hiện H là người nghiện ma túy và không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Lê Trung H có sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế. Xét thấy, Lê Trung H là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi vi phạm pháp luật đó là: Sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 35 Luật phòng, chống ma túy. Do đó, Công an xã B, tỉnh Ninh Bình căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H là có cơ sở chấp nhận.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về nhân thân: Lê Trung H có nhân thân xấu, ngày 25/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (Nay là Tòa án nhân dân khi vực 6 - Ninh Bình) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Tình tiết giảm nhẹ: Lê Trung H đã tự nguyện khai báo về việc nghiện ma túy - là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Tình tiết tăng nặng: Lê Trung H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc: Lê Trung H hiện nay không có việc làm ổn định, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, đã gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội, đã vi phạm về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vì vậy, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối Lê Trung Hiếu là cần thiết. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 9; Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 29, Điều 35 Luật phòng, chống ma túy, áp dụng biện pháp đưa Lê Trung H đi cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an xã B, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nhân thân của người bị đề nghị.
Về quyền khiếu nại: Lê Trung H được quyền khiếu nại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 3, Điều 9, Điều 10, Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Điều 29, Điều 35 Luật phòng, chống ma túy;
- Điều 3, Điều 20, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Điều 58 Nghị định 163/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.
- Điều 3, Điều 4 Nghị định 166/2026/NĐ-CP Quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma tuý.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Lê Trung H bị quản lý để đưa đi cai nghiện bắt buộc là ngày 14/9/2026.
3. Cơ sở tiếp nhận: Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan biết.
4. Người bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án, Công an xã B có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình có quyền kháng nghị đối với Quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quan thi hành Quyết định: Công an xã B, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 6 - Ninh Bình; - Công an xã Bình Sơn; - Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đinh Thành Nam |