vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Xuân Tr - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2026/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Long và ông Nguyễn Quốc Thái.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Hồ Quang Phúc - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2026/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

- Triệu Xuân Tr, sinh năm 2005, tại tỉnh Đắk Lắk; căn cước công dân số: 066205001983, cấp ngày 16/4/2021; nơi cư trú: Thôn 6, xã Ea Kh, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn V và con bà Nông Thị Đ.

Tiền sự: Ngày 16/7/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 64/2024/QĐ-TA với thời hạn 12 tháng đến ngày 07/6/2025 bị cáo chấp hành xong quyết định.

Tiền án: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2026 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trai tạm giam Ea H’Leo - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

- Người làm chứng: Ông Triệu Văn V, sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn 6, xã Ea Kh, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Xuân Tr là đối tượng nghiện ma túy, ngày 16/7/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 12 tháng theo Quyết định số: 64/2024/QĐ-TA. Ngày 07/6/2025, Triệu Xuân Tr chấp hành xong quyết định cai nghiện về sinh sống tại địa phương. Ngày 09/6/2025 Ủy ban nhân dân xã Ea Khăl ra Quyết định số: 111/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Triệu Xuân Tr, thời hạn quản lý từ ngày 07/6/2025 đến ngày 07/6/2027, trong thời quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/3/2026, Tr đi bộ trên đoạn đường thuộc thôn 6, xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk thì gặp một người đàn ông tên Ph (không rõ nhân thân lai lịch). Qua nói chuyện biết người đàn ông tên Ph có bán ma tuý nên Tr hỏi mua 200.000 đồng ma túy, loại Heroine thì người này đồng ý bán rồi đưa lại cho Tr 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất rắn màu trắng là ma túy. Sau đó, Tr cầm về nhà của mình tại thôn 6, xã Ea Kh, tỉnh Đắk Lắk đi ra phía sau vườn cà phê của gia đình, bỏ ma tuý vừa mua được vào ống bơm kim tiêm cho thêm nước pha loãng sau đó chích vào cơ thể đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an xã Ea Khăl tiến hành đưa Tr đến Trung tâm y tế Ea H’Leo để kiểm tra tình trạng sử dụng ma túy, kết quả dương tính với định tính Morphin.

Tại Bản kết luận giám định số: 507/KL-KTHS ngày 14/3/2026 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Mẫu nước tiểu bên trong chai nhựa được niêm phong gửi giám định tìm thấy sản phẩm chuyển hoá của Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 58/CT-VKS-HS, ngày 18 tháng 6 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Triệu Xuân Tr về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Xuân Tr phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Triệu Xuân Tr từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/4/2026.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm bằng nhựa không màu, có nắp đậy màu đỏ kích thước (11x0,7)cm, trên thân bơm kim tiêm có dòng chữ BBRAUNU-40 INSULIN LATET PREF là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Đối với người đàn ông tên Ph đã bán ma tuý cho Triệu Xuân Tr, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về nội dung và tội danh đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Triệu Xuân Tr đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Vào ngày 04/3/2026 tại thôn 6, xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk, Triệu Xuân Tr đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số: 507/KL-KTHS ngày 14/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Mẫu nước tiểu của Triệu Xuân Trường được niêm phong gửi đi giám định tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của Heroine.

Tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bị cáo bị truy tố và xét xử về một tội danh, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

. Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm bằng nhựa không màu, có nắp đậy màu đỏ kích thước (11x0,7)cm, trên thân bơm kim tiêm có dòng chữ BBRAUNU-40 INSULIN LATET PREF là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Đối với người đàn ông tên Ph đã bán ma tuý cho Triệu Xuân Tr, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

. Về tội danh, điều luật, mức hình phạt và biện pháp tư pháp Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Triệu Xuân Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Xuân Trường phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Xuân Tr 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03 tháng 4 năm 2026.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm bằng nhựa không màu, có nắp đậy màu đỏ, kích thước (11x0,7)cm, trên thân bơm kim tiêm có dòng chữ BBRAUNU-40 INSULIN LATET PREF là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Đặc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án.

4. Về án phí hình sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Triệu Xuân Tr phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Triệu Xuân Tr có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ