vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bắt, tạm giam bị cáo: Nguyễn Tấn T (Tên gọi khác: Đ), S ngày 24/4/1994.

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu ) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Theo điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Bắt, tạm giam bị cáo: Nguyễn Tấn T (Tên gọi khác: Đ), S ngày 24/4/1994.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/HS-ST
Ngày 26-03- 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Tùng

2. Ông Nguyễn Hùng Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trung Thu- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở tòa án nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn T (Tên gọi khác: Đỡ), S ngày: 24/4/1994. Nơi sinh: Cần Thơ; CCCD số: 092094003064; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1950 (sống) và con bà Lê Thị H, sinh năm 1956 (sống); Có 03 người chị, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1986; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể là:

Ngày 21/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 12/02/2023.

Ngày 10/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 16/02/2025.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 25/8/2025, ông Lý Nguyễn Hoài P, sinh năm 1993, đăng ký thường trú ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ là thành viên tổ an ninh trật tự cơ sở ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ đến Công an xã T trình báo về việc đối tượng Nguyễn Tấn T (tên gọi khác Đ) sinh năm: 1994, đăng ký thường trú: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ là người bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đang có nhiều biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã T mời Nguyễn Tấn T đến làm việc và phối hợp với Trạm y tế xã tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể của T. Theo phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 25/8/2025 xác định T dương tính với chất ma túy đá Mathamphetamine.

Căn cứ kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Mathamphetamine. Qua xác minh thể hiện Nguyễn Tấn T đang bị Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ đang áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời thời hạn 02 năm từ ngày 17/02/2025 đến ngày 17/02/2027 theo Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 20/12/2025. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Tấn T khai nhận: cách khoảng thời trước khi cơ quan Công an mời test, T đã sử dụng ma túy một mình, hình thức sử dụng là hít, địa điểm sử dụng là khu vườn phía sau nhà của T thuộc ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Về nguồn gốc ma túy bị cáo T khai nhận có quan hệ quen biết với người có sử dụng mạng xã hội nick Facebook là “Tống Tuấn” nhà ở phường P, thành phố Cần Thơ từ khoảng tháng 03 năm 2025, qua nhiều lần trò chuyện T1 biết T từng đi cai nghiện ma túy nên có hứa nếu T có nhu cầu sử dụng ma túy thì nhắn T1 mua giúp. Đến tháng 08 năm 2025 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đăng nhập nick Facebook “Ông N1” để liên hệ nhờ T1 mua giúp 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) ma túy đá để sử dụng.

Đối với tài khoản nick facebook “Tống T1” T khai đã liên lạc mua ma túy không rõ họ tên cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có cơ sở để xác định tài khoản (bút lục số 124).

Ngày 19/9/2025 ông Trần Văn D chủ cửa hàng cầm đồ Dương 2 ở xã T, thành phố Cần Thơ giao nộp 01 điện thoại di động hiệu: OPPO A18, màu đen, có số IMEI: 862446064819339 đã qua sử dụng của Nguyễn Tấn T cầm với giá là 1.200.000 đồng (bút lục 118).

Đối với dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy T khai sau khi sử dụng xong đã vứt bỏ mảnh giấy bạc dùng để sử dụng trái phép chất ma túy xuống sông trước nhà T và chiếc bật lửa đã hết gas T đã vứt ở đâu không nhớ rõ nên cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Tấn T bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tuy nhiên ngày 09/01/2026 Cơ quan điều tra mời T làm và việc test nhanh chất ma túy cơ thể của T. Theo phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 09/01/2026 xác định T dương tính với chất ma túy đá loại M và A.

Theo kết luận giám định số 113/ KL-KTHS ngày 15/01/2026 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: mẫu gửi giám định tìm thấy chất túy, loại Methamphetamin.

Qua điều tra T khai nhận, vào ngày 07/01/2026 T nhờ người bạn tên “P1” mua dùm 200.000 đồng ma túy để sử dụng. Khi mua được ma túy “P1” chỉ cho T lấy ma túy (để trong gói thuốc Jet) chổ trụ cấm của bảng công trình đường tỉnh lộ 922 mới. Sau đó T lấy ma túy đem về dùng miếng giấy bạc (trong gói thuốc lá quẹt gas đốt lên và hút trực tiếp.

Đối với người tên “P1” T khai đã mua dùm ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa rõ lai lịch nhân thân. Sẽ tiếp tục xác minh làm rõ đề nghị xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSKV3 ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, 2024, 2025.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu ý kiến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, 2024, 2025 tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Các cơ quan tiến hành tố tụng tại Thành phố Cần Thơ và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ được thu thập khách quan, hợp pháp.

Về tội danh và điều khoản áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn T thừa nhận hành vi sử dụng ma túy vào các ngày 25/8/2025 và 07/01/2026. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy (dương tính với Methamphetamine) và các kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 05/9/2025 và số 113/KL-KTHS ngày 15/01/2026 của Phòng K Công an thành phố C.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Tấn T là đối tượng đang chấp hành biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú (thời hạn 02 năm từ 17/02/2025 đến 17/02/2027 theo Quyết định số 02/QĐ-UBND của UBND xã T, thành phố Cần Thơ). Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn thể hiện sự lười lao động, ý thức chấp hành pháp luật kém mặc dù đã được chính quyền địa phương tạo điều kiện giáo dục, quản lý sau cai. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi năm 2025).

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo sử dụng ma túy 02 lần (tháng 8/2025 và tháng 01/2026), đây là tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đặc biệt, lần phạm tội thứ hai diễn ra khi bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Nhằm thực hiện nghiêm chính sách pháp luật về phòng chống ma túy, răn đe đối tượng nghiện tái sử dụng, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung. Theo khoản 1 Điều 256a, mức hình phạt quy định từ 02 năm đến 03 năm tù. Với việc phạm tội 02 lần, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức án ở giữa khung hình phạt.

Về xử lý vật chứng và các đối tượng liên quan

Đối với chiếc điện thoại OPPO A18: Đây là tài sản bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy (công cụ phạm tội), cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với các đối tượng "Tống Tuấn" và "P1": Do chưa rõ lai lịch nhân thân, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là đúng quy định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát khu vực 3 - Cần Thơ tại phiên tòa về điều luật áp dụng và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T ( Tên gọi khác: Đ) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T ( Tên gọi khác: Đ) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 26/03/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ

luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A18 màu đen, có số IMEI: 862446064819339.

(Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 50/QĐ-VKSKV3 ngày 03/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Tp. Cần Thơ;

- Thi hành án DS TP Cần Thơ;

- VKSND KV3- Cần Thơ;

- Phòng THADS khu vực 3;

- Người TGTT;

- Lưu HS – BA.

Nguyễn Quyến

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 3- CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 26 tháng 03 năm 2026;

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân Khu vực 3- Cần Thơ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh T2

2. Ông Nguyễn Hùng P2

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2026 đối với:

Nguyễn Tấn T (Tên gọi khác: Đỡ), S ngày: 24/4/1994. Nơi sinh: Cần Thơ; CCCD số: 092094003064; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1950 (sống) và con bà Lê Thị H, sinh năm 1956 (sống); Có 03 người chị, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1986; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể là:

Ngày 21/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 12/02/2023.

Ngày 10/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 16/02/2025.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:(5)

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Kết quả biểu quyết: 3/3

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T ( Tên gọi khác: Đ) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 26/03/2026.

Kết quả biểu quyết: 3/3

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A18 màu đen, có số IMEI: 862446064819339.

(Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 50/QĐ-VKSKV3 ngày 03/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3).

Kết quả biểu quyết: 3/3

3.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Kết quả biểu quyết: 3/3

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Kết quả biểu quyết: 3/3

5. Về biện pháp ngăn chặn:

Ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp diễn: Bị cáo đã thể hiện sự xem thường pháp luật rõ rệt khi liên tục tái phạm trong quá trình đang bị điều tra.

Bảo đảm thi hành án: Với mức án dự kiến từ 2 năm 06 tháng tù và nhân thân là người nghiện ma túy, khả năng bị cáo bỏ trốn hoặc tiếp tục lún sâu vào tệ nạn là rất cao.

Tính nghiêm minh: Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy theo tinh thần mới của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2025.

Bắt tạm giám bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 26 tháng 03 năm 2026

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Phước – Lê Thanh Tùng

Nguyễn Quyến

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 3- CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Cần Thơ, ngày 26 tháng 03 năm 2026 Số:...../2026/HSST-QĐBTG

QUYẾT ĐỊNH BẮT, TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 3-CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hùng P2

Ông Lê Thanh T2

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 26 tháng 03 năm 2026 của Hội đồng xét xử sơ thẩm; Xét thấy cần thiết bắt, tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Bắt, tạm giam bị cáo: Nguyễn Tấn T (Tên gọi khác: Đ), S ngày 24/4/1994. Nơi sinh: Cần Thơ; CCCD số: 092094003064; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu ) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Theo điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025). Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Điều 2 Phân trại tạm giam Phong Điền thuộc Trại giam S1 Công an thành phố C có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ