- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thị Kim T- Anh Mai Th "Tranh chấp ly hôn và nuôi con""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị Kim T về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Mai Th.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 45/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05/02/2026 V/v:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Phạm Ngọc Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Khương
2. Bà Phạm Thị Lệ Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đức Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 120/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 07/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị Kim T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp V, xã BA, tỉnh AG.
- Bị đơn: Anh Mai Th, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp V, xã BA, tỉnh AG.
(Chị Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Mai Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thị Kim T trình bày:
Vào năm 2008, chị Thị Kim T và anh Mai Th, sinh năm 1988 qua thời gian tìm hiểu với nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Hòa Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật. Sau đó, chị T và anh Th cùng về sinh sống tại Ấp Vĩnh Đằng, xã Bình An thì sinh được 02 người con chung tên Mai Kiều M, sinh ngày 14/08/2009 và Mai Kiều L, sinh ngày 28/09/2011. Tuy nhiên, sau một thời gian anh chị chung sống cùng nhau thì không còn hạnh phúc nữa, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mặc dù, chị đã có nhiều lần nói chuyện cùng anh Th để hàn gắn lại tình cảm vợ chông đề xây dựng gia đìn hạnh phúc, nuôi dưỡng con chung đến lúc trưởng thành nhưng không được. Đến nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, do đó chị T đã sống ly thân với chồng tôi hơn 02 năm nay. Từ lúc ly thân đến nay người con chung tên Mai Kiều M sống cùng chị T, được chị T chăm sóc và nuôi dưỡng, còn Mai Kiều L sống cùng anh Th, được anh Th chăm sóc và nuôi dưỡng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể sống chung được với nhau và không thể tiến đến hôn nhân hạnh phúc, do đó mục đích hôn nhân không đạt được như mong muốn. Vì vậy chị T muốn chấm dứt mối quan hệ hôn nhân này. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị T cảm thấy không hạnh phúc khi chung sống với nhau, nên chị khởi kiện và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Mai Th;
- Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Kiều M, sinh ngày 14/8/2009, đồng ý giao con chung là cháu Mai Kiều L, sinh ngày 28/09/2011 cho anh Th chăm sóc nuôi dưỡng, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và chị không cấp dưỡng nuôi con;
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết;
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn anh Mai Th đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục đúng theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng anh Mai Th vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn.
* Tại Biên bản xác minh ngày 12/11/2025 đối với Ban Lãnh Đạo ấp Vĩnh Đằng, xã Bình An, tỉnh An Giang:
Ban lãnh đạo ấp Vĩnh Đằng, xã Bình An, tỉnh An Giang xác nhận anh Mai Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Vĩnh Đằng, xã Bình An, tỉnh An Giang và hiện tại đương sự đi làm ăn nhưng vẫn thường xuyên về nhà.
* Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 16/12//2025, cháu Mai Kiều M trình bày: Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu muốn được mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
* Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 16/12//2025, cháu Mai Kiều L trình bày: Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với cha, cháu muốn được cha trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Chị Thị Kim T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Mai Th nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn anh Mai Th có nơi cư trú tại ấp Vĩnh Đằng, xã Bình An, tỉnh An Giang nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Chị Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với anh Mai Th thì Toà án đã làm đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Mai Th vẫn vắng mặt không lý do và chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Thị Kim T. Do đó căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Kim T và anh Mai Th xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hoà Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang do đó quan hệ hôn nhân của chị Thị Kim T và anh Mai Th là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thị Kim T yêu cầu ly hôn với anh Mai Th: Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Thị Kim T xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên sau đó có nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống. Mặc dù chị đã nhiều lần cố gắng giải quyết những bất đồng, những mâu thuẫn phát sinh, song vẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Mặc dù Tòa án đã mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên chị Thị Kim T và anh Mai Th hàn gắn đoàn tụ nhưng hòa giải không thành, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để anh Mai Th có mặt tham gia phiên tòa nhưng anh Mai Th vắng mặt, đồng thời chị Thị Kim T cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Mai Th. Hội đồng xét xử thấy rằng chị Thị Kim T không còn tự nguyện chung sống với anh Mai Th nữa nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Kim T về việc xin ly hôn với anh Mai Th là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 2, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Trong thời gian chung sống chị chị Thị Kim T và anh Mai Th có 02 con chung là Mai Kiều M, sinh ngày 14/8/2009 và cháu Mai Kiều L, sinh ngày 28/09/2011. Chị Thị Kim T yêu cầu tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Kiều M, sinh ngày 14/8/2009; đồng ý giao con chung là cháu Mai Kiều L, sinh ngày 28/09/2011 cho anh Th chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: từ sau khi ly thân đến nay chị Thị Kim Tl à người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu My, anh Th là người chăm sóc nuôi dưỡng cháu L. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu M cho chị Thị Kim T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và giao cháu L cho anh Th tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sống của 02 cháu, cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Về việc cấp dưỡng nuôi con: do chị Thị Kim T tự nguyện không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị T, anh Mai Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị Kim T xác định trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cam kết là không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Mai Th đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Mai Th vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, không tiến hành đối chất được về tài sản chung và nợ chung giữa chị Thị Kim T và anh Mai Th. Do đó, về tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Kim T về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Mai Th.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị Kim T là nguyên đơn trong vụ án nên chị Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 2, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị Kim T về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Mai Th.
1. Về hôn nhân: Cho chị Thị Kim T được ly hôn với anh Mai Th.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Mai Kiều M, sinh ngày 14/8/2009 cho chị Thị Kim T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Mai Kiều L, sinh ngày 28/09/2011 anh Mai Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị Thị Kim T tự nguyện không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị Thị Kim T, anh Mai Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị Kim T xác định không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị Kim T phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006644 ngày 29/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh An Giang.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 3 – An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Phạm Ngọc Khánh |