vanban.org

Bản án 45/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C. Bà Nguyễn Hoàng Lệ C được ly hôn với ông Trần Chấn P.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 05/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là UBND xã P, thành phố Đ). Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024 cho bà Nguyễn Hoàng Lệ C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng Lệ C - Trần Chấn P - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C. Bà Nguyễn Hoàng Lệ C được ly hôn với ông Trần Chấn P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/HNGĐ – ST
Ngày: 12/5/2026
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thận

2. Ông Trần Đức Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 111/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Lệ C, sinh năm: 2004

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx

- Bị đơn: Ông Trần Chấn P, sinh năm: 2004

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx

Cùng địa chỉ: Thôn D T, xã P, thành phố Đ

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/02/2026 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Chấn P tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn ngày 05/12/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là UBND xã P, thành phố Đ). Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xảy ra cãi vã, ông P thường có hành vi bạo lực dùng lời lẽ xúc phạm bà. Cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Nai giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Chấn P.

Về con chung: Có 01 người con chung, họ tên là Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024; bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 23/4/2026, bị đơn ông Trần Chấn P trình bày: Ông và bà C sống với nhau từ năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Thời điểm mâu thuẫn từ năm 2026, hai bên lời qua tiếng lại không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, ông đồng ý ly hôn với bà C.

Về con chung: Có một người con chung, họ tên Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024. Bà C là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu nhưng ông mong muốn được thăm con, được gặp con chung, dẫn con về chơi khi rảnh.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai: Về tố tụng: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà C được ly hôn với ông P. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024 cho bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng, tài sản, nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự nộp án phí theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về Tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Lệ C yêu cầu được ly hôn với ông Trần Chấn P, có nơi cư trú tại Thôn D T, xã P, thành phố Đ. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.

Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C và bị đơn ông Trần Chấn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C yêu cầu ly hôn với ông P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà C và ông P tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là UBND xã P, thành phố Đ). Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về con chung: Bà C và ông P có một người con chung, họ tên họ tên Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024. Bà C có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Tại bản tự khai ngày 23/4/2026 ông P cũng đồng ý giao cháu N cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024 cho bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tại phiên toà là phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C. Bà Nguyễn Hoàng Lệ C được ly hôn với ông Trần Chấn P.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 05/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là UBND xã P, thành phố Đ).

2. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 05/11/2024 cho bà Nguyễn Hoàng Lệ C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lệ C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng (Biên lai thu tiền số 0005228 ngày 11/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đ)

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:

Cỡ chữ