- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Quàng Văn Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 27 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Quang Vinh
Ông Hàng A Vàng
- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn Kh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 09 tháng 02 năm 2000, tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản K, xã T, huyện H, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Quàng Văn H (sinh năm 1979) và con bà Quàng Thị T (sinh năm 1980); Vợ, con: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại cơ sở giam giữ thành phố thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 15 giờ ngày 20/12/2024, Quàng Văn Kh bắt xe khách từ nhà tại bản K, xã T, huyện H, tỉnh Lai Châu đến thành phố C rồi Kh đi chơi tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Kh một mình đi bộ đến khu vực bến xe khách tỉnh Lai Châu, thuộc tổ 26, phường Đ, thành phố C để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi Kh đang đi trên đường Nguyễn Trung Tr phía sau bến xe khách tỉnh Lai Châu để tìm mua ma tuý thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch, nhìn giống người nghiện ma tuý nên Kh đã hỏi mua ma tuý của người này. Qua trao đổi mua bán, Kh mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 02 lớp nilon (lớp ngoài là nilon màu hồng, lớp trong là nilon màu trắng) với giá 300.000 đồng. Mua được Heroine, Kh cầm gói Heroine ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma tuý. Hồi 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi Kh đang đi bộ trên đường T, thuộc tổ 26, phường Đ, thành phố C thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố C phối hợp với đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine Kh đang tàng trữ để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 55/KLGĐ ngày 21/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn Kh trong quá trình bắt quả tang ngày 20/12/2024 có khối lượng là 0,25 gam; Bản Kết luận giám định số 44/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn Kh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Các vấn đề khác của vụ án:
Bị cáo Quàng Văn Kh khai nhận nguồn gốc 0,25 gam Heroine bị thu giữ là mua của một người đàn ông dân tộc Mông, Kh không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Bản cáo trạng số 14/CT - VKSTP ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Quàng Văn Kh về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn Kh từ 17 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/12/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự’; Về xử lý vật chứng: Đối với 0,25 gam Heroine đã gửi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Vật chứng còn lại, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng; Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, bị cáo phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Quàng Văn Kh không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu.
Lời nói sau cùng: bị cáo Quàng Văn Kh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Trên cơ sở lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các vật chứng thu giữ được, có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 23 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, tại tổ 26, phường Đ, thành phố C, tỉnh Lai Châu, Quàng Văn Kh đang tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố C phối hợp với đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố C, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Quàng Văn Kh là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy: Hành vi của bị cáo Quàng Văn Kh cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điều khoản này quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm […]
c, Heroine, cocaine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam[...]
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, …hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Kh có nhân thân tốt.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có ông nội là Quàng Văn N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,25 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng pháp luật, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự và a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn Kh 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.
[3]. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu trắng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 27/2/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu với Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo toàn bộ bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố, thuộc trại Tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - VKSND thành phố Lai Châu; - Chi Cục THADS thành phố Lai Châu; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Vân Anh |