vanban.org

Bản án 45/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tấn M và đồng phạm về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KON TUM
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST.
Ngày: 17/4/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Doãn Kim Huế và bà Nguyễn Thị Vân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Bùi Tấn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 01 năm 1983 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052083008447; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Hữu L và bà Trần Thị S (đều đã chết); Bị cáo có vợ là chị Huỳnh Thị L1, sinh năm 1982 và 01 con, sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

2/ Lê Hoàng H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 02 năm 1992 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052092011947; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Công C, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là chị Đoàn Lê T1, sinh năm 1992 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

3/ Nguyễn Trường T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 8 năm 1987 tại Bình Định; Nơi cư trú: Tổ I, khu phố H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052087002913; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1965 và bà Trương Thị S1, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Thanh T3 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

4/ Trần Minh T4 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16 tháng 8 năm 1995 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052095018676; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1970 và bà Đoàn Thị P, sinh năm 1973; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Ánh H1, sinh năm 2000 (chưa có con); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

5/ Bùi Văn T5 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1992 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052092008962; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T6 (đã chết) và bà Phan Thị Đ, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ là chị Hà Thị H2, sinh năm 1993 và 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú””. Bị cáo có mặt.

6/ Nguyễn Ngọc T7 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 5 năm 1992 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052092006969; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị T8, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là chị Đặng Thị P1, sinh năm 1994 và 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

7/ Phạm Văn S2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 01 năm 1989 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Số CCCD 052089014909; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Công T9, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ là chị Châu Thị M1, sinh năm 1990 và 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 17/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh và ngày 17/3/2025 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.

- Người chứng kiến:

1/ Anh Trần Tiến Như V, sinh năm 1998 ( Có mặt).

Địa chỉ: Số H T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

2/ Ông Lê Đình S3 ( Có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 17/12/2024, các bị cáo Bùi Tấn M, Nguyễn Ngọc T7, Bùi Văn T5, Phạm Văn S2, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2 và Trần Minh T4 là tài xế lái xe cho Công ty V1 tại tỉnh Gia Lai được nghỉ làm nên tập trung tại khu vực bờ kè đường T, tổ A, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum chơi. Tại đây, M nảy sinh ý định đánh bạc nên đã rủ T7, T5, S2, H, T2 và T4 chơi đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua trên điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh của Mỹ đã được cài sẵn ứng dụng xóc bầu cua có tên “Bau cua 2025” thì tất cả đồng ý. Trước khi chơi, tất cả cùng thống nhất cách thức chơi như sau: M là người cầm cái và sử dụng ứng dụng “Bau cua 2025” để xóc, trong giao diện ứng dụng có 03 quân vị hình lập phương 06 mặt, các mặt của mỗi quân vị có hình con vật “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai” để trong 01 cái đĩa màu vàng. Bắt đầu mỗi lượt chơi, M sẽ nhấn nút “Xốc” trên ứng dụng thì lúc này ứng dụng sẽ hiện ra 01 cái bát màu vàng úp lên các quân vị và tự xốc các quân vị bên trong. Sau đó, người chơi sẽ chọn các hình “Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai” để đặt cược. Mỗi lượt, người chơi đặt cược số tiền từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng. Sau khi tất cả đặt cược xong, M nhấn vào nút “Mở” trên ứng dụng thì sẽ hiện ra kết quả các mặt ngửa lên là kết quả xác định thắng thua. M sẽ trả tiền theo số tiền cược cho những người đánh bạc, nếu có 02 con giống nhau hoặc 03 con giống nhau thì sẽ được số tiền gấp 02 hoặc gấp 03 lần số tiền đã cược ban đầu, còn nếu người chơi không trùng con nào trên xúc xắc thì M sẽ thắng số tiền của người chơi đã đặt cược.

Đến khoảng 17 giờ 15 phút, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố K phát hiện, bắt quả tang Bùi Tấn M, Nguyễn Ngọc T7, Bùi Văn T5, Phạm Văn S2, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2 và Trần Minh T4 đang đánh bạc trái phép. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh; thu giữ trên người Bùi Tấn M số tiền 1.270.000 đồng, Nguyễn Ngọc T7 số tiền 190.000 đồng, Bùi Văn T5 số tiền 490.000 đồng, Phạm Văn S2 số tiền 35.000 đồng, Nguyễn Trường T2 số tiền 560.000 đồng, Lê Hoàng H số tiền 2.190.000 đồng, Trần Minh T4 số tiền 500.000 đồng. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố K đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận số tiền dùng để đánh bạc như sau: Bùi Tấn M mang theo số tiền 1.270.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Ngọc T7 mang theo số tiền 250.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Bùi Văn T5 mang theo số tiền 520.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Phạm Văn S2 mang theo số tiền 805.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Trường T2 mang theo số tiền 470.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Lê Hoàng H mang theo số tiền 2.070.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trần Minh T4 mang theo số tiền 510.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.895.000 đồng.

*Kết luận giám định số 01/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh K kết luận: Dữ liệu trích xuất của 01 điện thoại di động dạng cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI1: 351890416733680, số IMEI2: 353869186733680, bên trong thân máy không chứa thẻ sim: Có cài đặt ứng dụng xóc “Bầu cua” với tên “Bau cua 2025” hoặc “Bầu Cua Xuân 2025” (Phụ lục kèm theo). Không tìm thấy dữ liệu liên quan đến vụ việc.

*Công văn số 16/PC09 ngày 16/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh K về việc trả lời nội dung liên quan đến Kết luận giám định theo Công văn số 44/CV-D.TTXH ngày 14/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố K như sau:

- Ứng dụng “Bau cua 2025” không cần kết nối mạng Internet để hoạt động. Không tìm thấy hình thức, lịch sử và các hoạt động liên quan đến cá cược trong ứng dụng trên.

- Cách thức hoạt động của ứng dụng “Bau cua 2025” (Phụ lục kèm theo).

*Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT – Công an thành phố K đã thu giữ và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum bảo quản, chờ xử lý đối với:

- Số tiền 5.895.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 23/12/2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh K;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

* Cáo trạng số 47/CT-VKSTPKT ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Qua tranh tụng tại phiên toà đã làm rõ được việc bị cáo Bùi Tấn M có gọi điện mua cơm cho các bị cáo với số tiền 260.000đ, tuy nhiên cơm chưa mang đến, bị cáo M chưa trả tiền cơm thì bị Công an bắt quả tang về hành vi đánh bạc. Do đó, số tiền đánh bạc của các bị cáo trên chiếu bạc và trên người các bị cáo với tổng số tiền 5.895.000đ. Trong đó, bị cáo Bùi Tấn M mang theo số tiền 1.270.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Ngọc T7 mang theo số tiền 250.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Bùi Văn T5 mang theo số tiền 520.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Phạm Văn S2 mang theo số tiền 805.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Trường T2 mang theo số tiền 470.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Lê Hoàng H mang theo số tiền 2.070.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trần Minh T4 mang theo số tiền 510.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Vì vậy, VKSND thành phố Kon Tum xin rút một phần cáo trạng đối với số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là xin rút số tiền 260.000đ đối với bị cáo Mỹ, tổng số tiền truy tố đánh bạc là 5.895.000đ.

Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về điều luật áp dụng và đề nghị mức hình phạt:

+ Đối với các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt các bị cáo với mức án như sau:

Xử phạt bị cáo Bùi Tấn M, bị cáo Lê Hoàng H từ 22.000.000đ đến 24.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn S2 từ 21.000.000đ đến 23.000.000đ.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T5 từ 21.000.000đ đến 22.000.000đ;

Xử phạt bị cáo Trần Minh T4 từ 21.000.000đ đến 22.000.000đ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T2 từ 20.000.000đ đến 21.000.000đ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T7 từ 20.000.000đ đến 21.000.000đ;

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị:

+ Tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.895.000 đồng tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A 04, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng K, Công an tỉnh K.

- Về án phí: Tất cả các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7, Phạm Văn S2 đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Tất cả các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm với đại diện VKS và thống nhất với nội dung VKS đã rút một phần đối với số tiền đánh bạc. Tất cả các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Kon Tum xin rút một phần nội cáo trạng đối với số tiền của Bùi Tấn M sử dụng vào mục đích đánh bạc từ 1.530.000đ xuống 1.270.000đ, xin rút số tiền 260.000đ, tổng số tiền truy tố đối với các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.895.000đ. Do đó, căn cứ điều 325 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy việc rút một phần nội dung cáo trạng không làm xấu đi tình trạng cũng như tội danh của các bị cáo và phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận đề nghị rút của VKSND thành phố Kon Tum và vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại điều 325 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để khẳng định:

Vào khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 17/12/2024, tại khu vực bờ kè đường T, tổ A, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum, cơ quan CSĐT – Công an thành phố K đã phát hiện, bắt quả tang các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 đang sử dụng ứng dụng “Bầu cua 2025” trên điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh của Mỹ để chơi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.895.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 47/CT-VKSTPKT ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân tất cả các bị cáo, thấy rằng:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, áp dụng cho các bị cáo được hưởng.

- Về nhân thân: Tất cả các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, bởi các bị cáo không có tổ chức phân công nên vai trò phạm tội có sự khác nhau. Thể hiện bị cáo Bùi Tấn M là người chuẩn bị công cụ, rủ rê, cầm cái để xóc bầu cua và dùng số tiền 1.270.000 để đánh bạc, tiếp đến bị cáo Lê Hoàng H dùng số tiền 2.070.000đ để đánh bạc; tiếp theo bị cáo Phạm Văn S2 sử dụng 805.000đ để đánh bạc, bị cáo Bùi Văn T5 sử dụng 520.000đ để đánh bạc, bị cáo Trần Minh T4 sử dụng 510.000đ để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Trường T2 sử dụng 470.000đ để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Ngọc T7 sử dụng 250.000đ để đánh bạc. Từ đánh giá vai trò, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, thấy rằng: Số tiền đánh bạc của bị cáo T5, bị cáo T4 chệnh lệch không nhiều, cũng như bị cáo T2 và bị cáo T7 nên xem xét quyết định hình phạt tương đối ngang nhau. Xét thấy cần xử phạt bị cáo M và bị cáo H nghiêm khắc hơn trong số các bị cáo; tiếp đến bị cáo S2, đến bị cáo T5 và bị cáo T4, cuối cùng là bị cáo T2 và bị cáo T7 vì số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc ít.

Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, sau khi xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội. HĐXX, xét thấy các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc ít, bản thân các bị cáo có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự là hình phạt chính cũng đủ giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà biết chấp hành các quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

+ Đối với số tiền 5.895.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Xét thấy, đây là số tiền sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì của Phòng K, Công an tỉnh K là của bị cáo Bùi Tấn M. Đây là công cụ, phương tiện để các bị cáo thực hiện hành vi “Đánh bạc” nên cần tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh.

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Tấn M 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng);

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng H 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn S2 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng);

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T5 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng);

Xử phạt bị cáo Trần Minh T4 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T2 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T7 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.895.000 (Năm triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn) đồng theo Giấy ủy nhiệm chi vào tài khoản số 3949.0.1047677.00000 đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, ngày 24/3/2025 tại Kho bạc nhà nước K; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04, màu xanh (đã qua sử dụng, đã được niêm phong).

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).

4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 6, 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Bùi Tấn M, Lê Hoàng H, Nguyễn Trường T2, Trần Minh T4, Bùi Văn T5, Nguyễn Ngọc T7 và Phạm Văn S2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/4/2025), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ