vanban.org

Bản án 45/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2025.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong số 86/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST.
Ngày: 21 - 5 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Đỗ Thị Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Đỗ Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng T, sinh năm 1977 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Mạnh T1 và bà Lê Thị T2; vợ: Đinh Thị Thu H; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 12/2008/HSST ngày 08/4/2008, Toà án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam xử phạt Nguyễn Hồng T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 39/2009/HSST ngày 11/9/2009, Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt Nguyễn Hồng T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Bản án số 42/2021/HSST ngày 06/9/2021, Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt Nguyễn Hồng T 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Quyết định số 10 ngày 24/12/2015, Công an phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Quyết định số 40 ngày 06/12/2016, Công an phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Việt N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 21/01/2025, Tổ công tác của Công an xã C phối hợp với Công an xã N, huyện L làm nhiệm tuần tra kiểm soát tại thôn B, xã C, huyện L phát hiện Nguyễn Hồng T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Nguyễn Hồng T khai nhận chất bột màu trắng dạng cục trong gói giấy là ma túy, loại heroine cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói ma tuý niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” sau đó bàn giao Nguyễn Hồng T cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng T tại tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,284g (Không phẩy hai trăm tám mươi tư gam), loại: Heroine”.

Về nguồn gốc chất ma túy đã thu giữ, theo Nguyễn Hồng T khai: Khoảng 17 giờ ngày 21/01/2025, T đến khu vực đầu cầu H thuộc địa phận xã C, huyện L mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) một gói ma túy với số tiền 200.000 đồng trên đường đi tìm nơi sử dụng, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKSLN ngày 25/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, truy tố Nguyễn Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Hồng T từ 33 đến 39 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng và án phí vụ án.

Bị cáo Nguyễn Hồng T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.

Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định về chất ma tuý và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 21/01/2025, tại thôn B, xã C, huyện L, Nguyễn Hồng T đang cất giữ trái phép 0,284g (Không phẩy hai trăm tám mươi tư gam) ma túy, loại Heroine trong túi quần phía trước bên phải với mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an xã C phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 02 lần bị xử phạt hành chính và 03 lần bị Toà án xử phạt tù về các tội phạm ma tuý và trộm cắp tài sản.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Mạnh T1 và bà Lê Thị T2 đã tham gia kháng chiến được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản, mục đích phạm tội không nhằm thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Số lượng ma tuý hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đối với số ma tuý đã thu giữ, theo Nguyễn Hồng T khai nhận mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực cầu H thuộc địa phận xã C, huyện L. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện L không có căn cứ điều tra, xử lý đối với người đã bán ma tuý cho Nguyễn Hồng T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2025.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong số 86/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh H.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 29/4/2025).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ