- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. - phạm tội mua bán trái ph…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH QUANG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 16/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phùng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đình Hoàng.
2. Ông Tô Đình Trị.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Hải Linh – Thư ký TAND huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh An – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 23/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 đối với bị cáo sau đây:
Nguyễn Văn T, sinh ngày: 24/5/1990, tại: huyệnThăng Bình, tỉnh Quảng Nam; Địa chỉ: Tổ 2, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;
Con ông: Nguyễn Thành L, sinh năm: 1965; Con bà: Võ Thị K, sinh năm: 1967. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Vào các ngày 15/3/2013, ngày 17/5/2013 và ngày 04/02/2019 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đ ng/l n vì đ c hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy ; t ngày 23/10/2013 - 28/02/2015, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị bắt tạm giam t ngày 18/12/2024, bị cáo c mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Do n Quốc P, sinh năm: 199 .
Địa chỉ: Tổ , thôn Liễu Thạnh, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Thôn Cây Sanh, x Tam Dân, huyện P, tỉnh Quảng Nam.
3. Bà Phan Thị A, sinh năm: 19 6
Địa chỉ: Thôn Liễu Thạnh, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
(Những người liên quan đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau: Lúc 20 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã B, huyện T kiểm tra hành chính quán cà phê Công Chứng (địa chỉ: Tổ 2, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam) do Bà Nguyễn Thị N làm chủ. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại bàn nước Nguyễn Văn T và Do n Quốc P đang ng i c 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy g m: 01 nỏ thủy tinh c một đ u hình phình b u bên trong c chất màu nâu, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục thủng 02 lỗ, 01 chai nhựa và 02 bật lửa. Tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Văn Thành và Do n Quốc Phú phát hiện cả Thành và Phú đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 16/12/2024, thông qua một người tên Min (không rõ nhân thân), Thành xin số điện thoại của một người bán ma túy (không rõ nhân thân), sau đ T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6S gắn thẻ sim 0763741652 của Thành gọi alo cho người bán ma túy hỏi mua 300.000 đ ng ma túy đá thì người bán ma túy hẹn T đến trước cổng nhà máy tuyển cát thuộc thôn Ngọc Sơn Đông, x B, huyện T giao tiền và nhận ma tuý. Thành điều khiển xe mô tô BKS: 92H1 - 697.04 (xe của ông Nguyễn Thành L - cha ruột T) đến điểm hẹn gặp 01 người thanh niên khoảng 30 đến 32 tuổi (không rõ nhân thân) đưa tiền, người thanh niên đưa lại cho T một đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đ u bên trong chứa ma túy, T c m đoạn ống hút nhựa về nhà, đổ ma túy vào nỏ thủy tinh r i sử dụng một ít, xong T đem nỏ thủy tinh bên trong c chứa chất ma túy còn lại cất giấu. Khoảng 17 giờ ngày 18/12/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 92H1-697.04 đem theo nỏ thủy tinh bên trong c chứa chất ma túy và một số dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy đến quán cà phê Công Chứng uống cà phê và sử dụng ma túy. Đến nơi T thấy Do n Quốc P đang ng i uống cà phê ở quán nên T rủ Phú sang ng i uống cà phê và sử dụng ma túy với T. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi T và P v a sử dụng xong ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã B, huyện T kiểm tra bắt giữ.
Tại Kết luận giám định số: 42/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: Mẫu vật giám định là 01 ống nỏ thủy tinh dạng ống gấp tạo khuỷu, một đ u phình thành b u (nỏ thủy tinh) thu giữ của Nguyễn Văn T bên trong nỏ tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá), dạng vết- không xác định được khối lượng.
Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSTB-HS ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Văn T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo đ biết lỗi l m của mình và trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận. Bị cáo xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên cáo trạng đ truy tố đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong ph n luận tội đ phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Các tình tiết tăng nặng: Không có; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 11/01/2013, bị cáo Nguyễn Văn T được Chủ tịch UBND x Bi, huyện T tặng giấy khen vì “Đ c thành tích trong truy bắt tội phạm năm 2012 . Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T t 36 đến 42 tháng tù.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 4 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ sử dụng ma túy g m: 01 chai nhựa c nắp đục hai lỗ tròn, 01 ống hút nhựa, 02 bật lửa và 01 bì niêm phong số 42/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam chứa ống nỏ thủy tinh sau giám định; tịch thu tiêu hủy sim số 0 63 41652 và BKS: 43E1-237.99. Tịch thu sung công quỹ 01 ĐTDĐ Iphone 6S Thành dùng để liên lạc mua ma túy, trả lại cho Do n Quốc P 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A gắn 02 thẻ sim số 0 0 85901 và 035601105 .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đ thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Các căn cứ xem xét, đánh giá về tội danh và khung hình phạt:
- Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo c trong h sơ và tại phiên tòa; biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan và các chứng cứ khác đ được thu thập c trong h sơ vụ án là phù hợp.
- Căn cứ vào bản kết luận giám định số: 42/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: Mẫu vật giám định là 01 ống nỏ thủy tinh dạng ống gấp tạo khuỷu, một đ u phình thành b u (nỏ thủy tinh) thu giữ của Nguyễn Văn T bên trong nỏ tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá), dạng vết- không xác định được khối lượng.
Hội đ ng xét xử nhận định: Tối ngày 18/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T đ mang theo chất ma túy loại Methamphetamine và dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy g m: 01 nỏ thủy tinh bên trong c chứa chất ma túy, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục thủng 02 lỗ, 01 chai nhựa và 02 bật lửa, đến quán cà phê Công Chứng, tại: Thôn Liễu Trì, xã B, huyện T, ng i uống nước và sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy, bị cáo T nhìn thấy Do n Quốc P ng i uống nước ở quán nên bị cáo T rủ Do n Quốc Phú cùng sử dụng ma túy với bị cáo T. Đối với Do n Quốc P, không tham gia g p tiền mua ma túy. P sử dụng trái phép chất ma túy là do bị cáo T rủ rê, cung cấp và P là người thụ hưởng
Như vậy, c đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy . Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Hội đ ng xét xử thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đ truy tố đối với bị cáo là c căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Ma túy là một loại chất kích thích, gây ảo giác, gây nghiện khi người đ sử dụng thì khó mà dứt bỏ. Để thỏa m n cơn nghiện, người nghiện ma túy có thể bất chấp tất cả thủ đoạn nhằm để c ma túy để sử dụng, t đ gây nên những mối nguy hiểm khác cho xã hội. Ngoài ra, khi nghiện ma túy sẽ dẫn đến các căn bệnh rất nguy hiểm cho tính mạng của người sử dụng và người thân. Chính vì lẽ đ , Quốc Hội và Chính phủ chỉ đạo xử lý kiên quyết đối với hành vi mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bộ luật Hình sự cũng quy định mức hình phạt rất nặng đối với hành vi này. Bị cáo là người đ trưởng thành, bị cáo biết rõ hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng do coi thường pháp luật, bị cáo đ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo c n phải xử phạt thật nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đ gây ra.
- Xét nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn T xuất thân là nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình kh khăn nhất định. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được khen thường khi tham gia truy bắt tội phạm Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt đ nhiều l n bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đ ng xét xử thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, Hội đ ng xét xử thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện T c n phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để các cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
Về xử lý vật chứng: Hội đ ng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.
- Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy g m: 01 chai nhựa c nắp đục hai lỗ tròn, 01 ống hút nhựa, 02 bật lửa và 01 bì niêm phong số 42/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam chứa ống nỏ thủy tinh sau giám định. Các dụng cụ này bị cáo làm dùng công cụ phạm tội nên c n phải tịch thu tiêu hủy.
- Đối với sim điện thoại số 0 63 41652 bị cáo Thành dùng làm phương tiện phạm tội c n phải tịch thu tiêu hủy.
- Đối với biển kiểm soát: 43E1-23 .99 được gắn trên xe Piago Liberty số máy: M 39M50212 5, số khung: RP8M 3401EV119955, qua tra cứu trên hệ thống xác định biển số xe này do ông Tr n Văn Cảnh (sinh năm: 1972, trú tại 50 H Sỹ Tân, phường Nại hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) đăng ký sử dụng cho xe SH mode và hiện tại ông Cảnh vẫn đang sử dụng xe và BKS xe của mình. Do đ Hội đ ng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tịch thu tiêu hủy đối với BKS: 43E1-237.99.
- Tịch thu sung công quỹ 01 ĐTDĐ Iphone 6S bị cáo T dùng để liên lạc mua ma túy.
- Trả lại cho Do n Quốc P 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A gắn 02 thẻ sim số 0 0 85901 và 035601105 không liên quan đến hành vi phạm tội.
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Những vấn đề liên quan trong vụ án:
- Đối với Do n Quốc P, qua trình điều tra thấy rằng không c hành vi rủ rê, cung cấp ma túy cho người khác, không tham gia g p tiền, không cung cấp bất kỳ công cụ phương tiện hoặc c hành vi giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của T. P sử dụng trái phép chất ma túy là do T rủ rê, cung cấp, P chỉ là người thụ hưởng, do vậy Cơ quan CSĐT chuyển xử lý hành chính đối với P về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.
- Đối với xe mô tô Piago Liberty, số máy: M 39M50212 5, số khung: RP8M 3401EV119955 gắn BKS: 43E1 - 23 .99, quá trình điều tra xác định là của ông Nguyễn Thành L (sinh năm: 1991, trú Tổ dân phố số 01 phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên) đăng ký sở hữu với BKS: 2 B1-281.56, tuy nhiên xe này ông L đ bán cho tiệm c m đ (không xác định được địa chỉ cụ thể) tại Thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra Do n Quốc P khai nhận chiếc xe trên là của ông Do n P (sinh năm 19 4) cha ruột của P, sau khi ông Do n P chết để lại xe cho bà Phan Thị Á (sinh năm: 19 6, trú thôn Liễu Thạnh, xã B, huyện T - mẹ P) sử dụng. Do chưa xác định được hiệu c m đ mà ông Nguyễn Thành L bán xe, cũng như ông Do n P người sử dụng xe đ chết, BKS: 43E1-23 .99 gắn trên xe không phải là của xe Piago Liberty, số máy: M 39M50212 5, số khung: RP8M 3401EV119955, do vậy Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau. Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
- Đối với người đàn ông tên “Min đ cho bị cáo T số điện thoại của người bán ma túy, cũng như người bán và giao ma túy cho Thành không rõ nhân thân, lai lịch nên không c cơ sở để xác minh điều tra xử lý.
- Đối với Bà Nguyễn Thị N là chủ quán cà phê Công Chứng do bận công việc của quán, không biết cũng như không thấy Nguyễn Văn T và Do n Quốc P sử dụng ma túy ở quán nên không xem xét xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy .
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính t ngày bị bắt ngày 18/12/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46 ; Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự ;
Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ sử dụng ma túy g m: 01 chai nhựa c nắp đục hai lỗ tròn, 01 ống hút nhựa, 02 bật lửa và 01 bì niêm phong số 42/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam chứa ống nỏ thủy tinh sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0 63 41652.
- Tịch thu tiêu biển kiểm soát: 43E1-237.99.
- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoai di động Iphone 6S.
- Trả lại cho Do n Quốc P 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9A gắn 02 thẻ sim số 0 0 85901 và 035601105 .
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Áp dụng các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính t ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày bản án được tống đạt hợp lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu h sơ, lưu bộ phận HS;. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Đặng Phùng Thành |