- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 12 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Công Điện;
Ông Nguyễn Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13
- Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Huỳnh Hữu T, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1985; nơi sinh: Huyện P, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường T, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H, và bà Nguyễn Thị Anh Đ; có vợ là Nguyễn Thị Thùy T1 (đã ly hôn), và 02 người con (lớn sinh năm 2019, nhỏ không rõ năm sinh); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Đã từng bị kết án 02 lần, bị xử phạt hành chính 02 lần (cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/HSST ngày 17/8/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xử phạt bị cáo 12 tháng tù về Tội không tố giác tội phạm, án phí hình sự sơ thẩm phải chịu 50.000 đồng, chấp hành xong ngày 12/9/2007; tại bản án hình sự sơ thẩm số 158/HSST ngày 19/8/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xử phạt bị cáo 03 năm tù về Tội cướp giật tài sản, án phí hình sự sơ thẩm phải chịu 50.000 đồng, chấp hành xong ngày 12/9/2007; ngày 01/6/2022, bị Công an phường H, quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 02/6/2022; ngày 25/9/2023, bị Công an xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng, với số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 02/6/2022); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 4 năm 2025 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Huỳnh Hữu T2, sinh năm 1985
Địa chỉ: ấp M, xã P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Trần Thế Đ1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số A N, phường A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Trần Dương K. Vắng mặt.
2. Phan Trọng H1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02 tháng 4 năm 2025, Huỳnh Hữu T mượn xe mô tô hiệu Dream biển số kiểm soát 65D1-398.36 của Trần Dương K điều khiển đến gặp đối tượng Phan Trọng H1 (ngụ ấp T, xã H, thành phố Cần Thơ) để tìm ma túy sử dụng. Khi đến nhà đối tượng H1, T nói với đối tượng H1 “còn đồ không cứu anh miếng chơi”, đối tượng H1 đưa cho T 01 bịch nylon bên trong có chứa chất ma túy, T lấy bịch ma túy bỏ vào túi quần jean phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe chạy về tiệm sửa xe của K tại khu vực X, phường Đ, thành phố Cần Thơ để trả xe cho K. Tại đây, T gặp em của mình là Huỳnh Hữu T2 đang lấy chiếc xe hiệu Wave từ tiệm của K, T2 kêu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số kiểm soát 51L2-0527 của T2 kè đẩy chiếc xe Wave do T2 điều khiển về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe kè đẩy chiếc xe Wave do T2 điều khiển chạy đến khu vực ấp M, xã P, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01 bịch nylon được nẹp kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng dài 5,5cm (được chế từ cây lục giác), 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng dài 7,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEL: 351816/10/164338/9, gắn sim số 0776572180; 01 xe mô tô hiệu Dream, màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong 01 bịch nylon được nẹp kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,13073 gam, loại Methamphetamine. H2 lại đối tượng gửi giám định: Không.
Vật chứng thu giữ trong vụ án đã được Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - Cần Thơ quản lý gồm: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, chữ ký tên Đặng Thị Phương L và Nguyễn Phước H3 (Mẫu niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1); 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 7,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 5,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEL: 351816/10/164338/9, kèm sim số 0776572180; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527.
Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS-KV13 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ, đã truy tố Huỳnh Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, chữ ký tên Đặng Thị Phương L và Nguyễn Phước H3 (Mẫu niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1).
Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEL: 351816/10/164338/9, kèm sim số 0776572180; 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 7,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 5,5cm (được chế từ cây lục giác). Giao trả cho ông Huỳnh Hữu T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Huỳnh Hữu T2 yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Từ đó đã có cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ ngày 02 tháng 4 năm 2025, bị cáo Huỳnh Hữu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream biển số kiểm soát 51L2-0527 của Huỳnh Hữu T2, kè đẩy chiếc xe Wave do T2 điều khiển chạy đến khu vực ấp M, xã P, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra bắt quả tang và thu giữ 01 bịch nylon được nẹp kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Theo kết luận giám định, xác định tinh thể màu trắng bên trong bịch nylon thu giữ của bị cáo là ma túy có khối lượng là 0,13073 gam, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác; cố ý trực tiếp xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy và trật tự, an toàn xã hội; theo kết luận giám định, tổng khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,13073 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định tội là “Heroin, C, M, A, MDMA hoặc XRL-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người cũng như nếp sống lành mạnh của cộng đồng, nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả, cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy; ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự tại địa phương; gây hệ lụy đến sức khỏe của chính bản thân người sử dụng cũng như lối sống lành mạnh của cộng đồng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ những phân tích về tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo; xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo vừa trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của cộng đồng, vừa là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác; phạm tội có tính chất, mức độ nghiêm trọng; có nhân thân rất xấu. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc đối với bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần trấn áp tội phạm và tệ nạn về ma túy tại địa phương.
Xét bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cân nhắc, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là đúng tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, có căn cứ chấp nhận.
Về vật chứng:
Đối với vật chứng là 01 (một) phong bì niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, chữ ký tên Đặng Thị Phương L và Nguyễn Phước H3 (Mẫu niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1) chứa chất gây nguy hại cho xã hội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEL: 351816/10/164338/9, kèm sim số 0776572180; 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 7,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 5,5cm (được chế từ cây lục giác) là những tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527 là tài sản của ông Huỳnh Hữu T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cũng cần trả lại cho ông Huỳnh Hữu T2.
Về các vấn đề khác: Đối với ông Huỳnh Hữu T2, là người nhờ bị cáo chở về nhà, nhưng không biết việc bị cáo cất giấu chất ma tuý trong người nên không có căn cứ xác định có đồng phạm. Đối với đối tượng Phan Trọng H1, không chứng minh được hành hành vi bán chất ma tuý cho bị cáo nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T 02 (hai) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 02 tháng 4 năm 2025.
3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Phòng K1, chữ ký tên Đặng Thị Phương L và Nguyễn Phước H3 (Mẫu niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1).
Giao trả cho bị cáo Huỳnh Hữu T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEL: 351816/10/164338/9, kèm sim số 0776572180; 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 7,5cm (được chế từ cây lục giác); 01 khúc đoản bằng kim loại màu trắng, dài 5,5cm (được chế từ cây lục giác).
Giao trả cho ông Huỳnh Hữu T2 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số kiểm soát 51L2-0527.
Toàn bộ vật chứng đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 - Cần Thơ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2025.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Huỳnh Hữu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ; - CA TP. Cần Thơ (CQĐT, PV06, PC10); - VKSND khu vực 13 - Cần Thơ - THADS thành phố Cần Thơ; - CA xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hữu Thắng |