- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Lê Thị Yến Nhi - Dương Văn Bê"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Mỹ Xuân.
Ông Nguyễn Bà Tòng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê N, sinh ngày 10/03/1990. (Có mặt)
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/08/2021, tại Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ thường trú: số nhà N, ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Anh Dương B, sinh ngày 01/01/1987. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm M, phường MQ, thành phố Cần Thơ.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; số CMND xxxxxxxxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 18/03/2025, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê N và anh Dương B được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2014 và đến ngày 09/05/2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban Nhân dân Phường MQ, thành phố Cần Thơ). Khi chung sống với nhau thời gian đầu thì vợ chồng chị chung sống rất vui vẻ, hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó dần dần cuộc sống vợ chồng chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, hiện nay mâu thuẫn ngày càng gay gắt, chị và anh B đã ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay và chị xác định không còn tình cảm gì với anh B, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị Lê N giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Dương B.
Về con chung: Chị N và anh B có một con chung với nhau tên Dương G, sinh ngày 25/01/2015, hiện nay cháu G đang sống chung với chị N, chị N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Bê cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
2/ Bị đơn anh Dương B đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không trình bày ý kiến gửi đến Toà án, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.
3/ Theo tờ nguyện vọng của cháu Dương G, lập ngày 18/3/2025: Cháu G thể hiện có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là chị N sau khi cha mẹ ly hôn.
4/ Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Nguyên đơn có mặt chấp hành đúng nội quy phiên tòa và quy định triệu tập của Bộ luật Tố tụng dân sự, còn bị đơn vắng mặt không rõ lý do là chưa chấp hành đúng quy định triệu tập của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên phát biểu về tính có căn cứ và yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Lê N được ly hôn với anh Dương B. Về con chung: Giao con chung tên Dương G, sinh ngày 25/01/2015 cho chị Lê N nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Dương B theo quy định của pháp luật. Về nợ chung, tài sản chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Dương B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê N và anh Dương B là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 09/05/2014 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ủy ban nhân dân phường MQ, thành phố Cần Thơ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị N là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa anh B và chị N, theo chị N cho rằng anh đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, anh B và chị N không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với nhau, anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay không thể hàn gắn. Do đó chị N giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh B. Anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải nhằm mục đích hàn gắn nhưng không đến tham gia phiên hòa giải, phiên tòa, bỏ mặc đối với yêu cầu ly hôn của chị N. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của anh B và chị N đã không còn sự quan tâm dành cho nhau, anh B và chị N đã ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay không còn liên lạc với nhau, tình trạng mâu thuẫn giữa anh B và chị N là trầm trọng không thể khắc phục, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị Lê N và anh Dương B có một con chung là cháu Dương G, sinh ngày 25/01/2015, theo chị N trình bày cháu G hiện nay đang sống với chị N và anh B không có ý kiến gì phản đối yêu cầu nuôi con của chị N. Cháu G hiện nay đã hơn đủ 10 tuổi và có nguyện vọng muốn sống với mẹ (chị N) sau khi cha mẹ ly hôn với nhau. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa anh B và chị N không có thỏa thuận với nhau về việc ai là người nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét. Cháu G đang được mẹ ruột nuôi dưỡng và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là chị N vì đã quen môi trường sống với mẹ từ nhỏ đến nay. Để không làm xáo trộn môi trường sống của cháu G đồng thời không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu cho nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu G cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho anh B không ai được quyền ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Lê N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000659 ngày 17/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Cần Thơ. Anh Dương B không phải chịu án phí.
Đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ về hướng giải quyết vụ án nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê N.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê N được ly hôn với anh Dương B.
2/ Về con chung: Giao cháu Dương G, sinh ngày 25/01/2015 cho chị Lê N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Dương B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4/ Về án phí sơ thẩm: Chị Lê N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000659 ngày 17/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Cần Thơ. Anh Dương B không phải chịu án phí.
5/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 7 – Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 7 – Cần Thơ; - Các đương sự; - UBND Phường MQ, TPCT; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Vàng |