- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đặng Thị Như T yêu cầu ly hôn ông Phạm văn Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Như T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/5/2025. “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng
Ông Đinh Xuân Dậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1163/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/12/2024 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Như T, sinh năm 1980.
- Bị đơn: Ông Phạm văn Đ, sinh năm 1974.
Trú tại: 62/3 ấp A, xã E, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn - bà Đặng Thị Như T, trình bày:
Bà và ông Phạm Văn Đ tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G cũ (nay là huyện T), tỉnh Đồng Nai, giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 02/3/2000.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, bình thường, nhưng từ khi sinh con thứ hai đến nay thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông Đ không chăm lo làm ăn mà còn chơi cờ bạc rồi nợ nần từ đó dẫn đến cãi vã, một mình bà phải đi làm trả nợ cho ông Đ và lo cho hai con. Năm 2023, bà có đưa đơn xin ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn để cho ông Đ cơ hội sửa đổi, tuy nhiên từ đó đến nay ông Đ không thay đổi nên bà tiếp tục nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Hiện tại, bà và ông Đ phần ai nấy sống, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung là Phạm Tấn Đ1, sinh năm 2000 và Phạm Thị Kiều O, sinh năm 2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn – ông Phạm Văn Đ: Vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời khai, không gửi trình bày ý kiến cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Quyền lợi và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung vụ án: Quá trình chung sống giữa bà Đặng Thị Như T và ông Phạm Văn Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, quá trình giải quyết vụ án ông Đ không đến Tòa án làm việc, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà T. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà T được ly hôn với ông Đ; Về con chung: 02 con chung là Phạm Tấn Đ1, sinh năm 2000 và Phạm Thị Kiều O, sinh năm 2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên không giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có, do chưa lấy được lời khai của ông Đ nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Xét thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Văn Đ hiện đang cư trú tại số 62/3 ấp A, xã E, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn – ông Phạm Văn Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Bên cạnh đó, nguyên đơn – bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Như T và ông Phạm Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G (cũ), tỉnh Đồng Nai ngày 02/3/2000, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ không đến Tòa án làm việc và không có văn bản trình bày ý kiến đối với những yêu cầu khởi kiện của bà T là tự từ bỏ quyền chứng minh của mình. Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng khi không có sự hợp tác của ông Đ. Ngoài ra, tại biên bản xác minh về tình trạng quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ tại Uỷ ban nhân dân xã E (BL 23), thể hiện: Địa phương không nắm được và cũng không nhận được đơn yêu cầu hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Khi xảy ra mâu thuẫn, các đương sự tự giải quyết với nhau mà không nhờ chính quyền địa phương can thiệp, hòa giải nên tình trạng mâu thuẫn kéo dài và không khắc phục được. Bên cạnh đó, vào tháng 6/2023 bà T có nộp đơn khởi kiện ly hôn 1 lần và đã tự nguyện rút đơn về để có cơ hội đoàn tụ, nhưng thời gian qua ông Đ không có thay đổi, đây là lần thứ hai bà T khởi kiện để yêu cầu ly hôn. Do đó, cần xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Đ là có thật, ông Đ không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
. Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung là Phạm Tấn Đ1, sinh năm 2000 và Phạm Thị Kiều O, sinh năm 2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Ông Đ vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về nợ chung: Bà T trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết. Ông Đ vắng mặt không có ý kiến nên không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 147, 220, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Như T.
1. Bà Đặng Thị Như T được ly hôn với ông Phạm Văn Đ.
2. Về con chung: 02 con chung là Phạm Tấn Đ1, sinh năm 2000 và Phạm Thị Kiều O, sinh năm 2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Bà Đặng Thị Như T phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000319 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà T đã nộp đủ án phí.
Báo cho bà T và ông Đ biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã E (GCNKH số 32 ngày 02/3/2000) - VKSND H.Trảng Bom; - CC.THADS H.Trảng Bom; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đỗ Thùy Dung |