vanban.org

Bản án 45/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Hữu V, bà

Nguyễn Thị A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam theo hợp đồng tín dụng số 290.HDDTD1.017.20 ngày 12/11/2020 Tính đến ngày 24-9-2025 tổng số tiền là 400.313.486 đồng, trong đó nợ gốc là 350.172.905 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.453.553 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.687.028 đồng. Kể… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nh- Vinh, Anh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Hữu V, bà
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/DS-ST
Ngày 24 - 9 -2025
V/v trA chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Phạm Thành Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải

Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 về trA chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam; địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, 111A Pasteur, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Văn Thắng - chức vụ: Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (theo Giấy ủy quyền số 025114.25 ngày 05/2/2025); có mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Hữu V, và bà Nguyễn Thị A; cùng nơi cư trú: xã Việt

Khê, thành phố Hải Phòng. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cho ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A vay 550.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 290.HĐTD1.017.20 ngày 12/11/2020; Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản (sau đây viết tắt là thẻ tín dụng) ngày 18/12/2020 với Ngân hàng, hạn mức thẻ đề nghị là 60.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại thôn 7, xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là thôn 7, Kỳ Sơn, xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng), đã được UBND huyện Thủy Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR504893, số vào sổ cấp GCN CH00695 cấp ngày 05/6/2019 cho chủ sử dụng là ông Bùi Hữu V. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 290.HĐTC.017.20 ngày 12 tháng 11 năm 2020.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông V bà A vay đủ số tiền 550.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông V, bà A đã vi phạm nghĩa vụ thA toán, đến ngày 24-9-2025, ông V, bà A còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 400.313.486 đồng. Trong đó nợ gốc là 350.172.905 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.453.553 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.687.028 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V, bà A phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi nêu trên và tiền lãi, phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Trong trường hợp ông V, bà A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ phát mại tài sản bảo đảm không đủ thA toán hết khoản nợ thì ông V, bà A phải có nghĩa vụ trả cho đến khi hết khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tại các buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 118, 119, Điều 274, 290, 298, 299, 303, 317, 320, 323, 463, 466, 468, 500 Bộ luật Dân sự;Các Điều 90, Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 Luật tổ chức tín dụng năm 2024 Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/NQ UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án.

Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn

Thị A phải trả cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng đã ký kết bao gồm nợ gốc, nợ lãi như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thA toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thA toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay và phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đề nghị phát mại tài sản thế chấp, trường hợp phát mại tài sản thế chấp không trả đủ nợ thì ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho ngân hàng. Ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật có trA chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: TrA chấp giữa nguyên đơn bị đơn là trA chấp hợp đồng tín dụng nên được xác định là trA chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Bị đơn hiện đang cư trú tại xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1- Hải Phòng

Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng được ký giữa Ngân hàng và ông V, bà A đã ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã nhận đủ số tiền vay, nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của mình theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Tính đến ngày 24-9-2025, ông V, bà A còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 400.313.486 đồng. Trong đó nợ gốc là 350.172.905 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.453.553 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.687.028 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A phải trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về xử lý tài sản bảo đảm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài

sản gắn liền với đất số 290.HĐTC.017.20 ngày 12 tháng 11 năm 2020 được ký đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên đã được ký kết trên cơ sở tự nguyện, tự định đoạt, thỏa thuận, mục đích và nội dung thỏa thuận phù hợp với đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực của cơ quan công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp và có hiệu lực thực hiện. Ngân hàng đề nghị phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A không trả được nợ là có căn cứ, hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 118, 119, Điều 274, 290, 298, 299, 303, 317, 320, 323, 463, 466, 468, 500 Bộ luật Dân sự;Các Điều 90, Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 Luật tổ chức tín dụng năm 2024 Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/NQ UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Bùi Hữu V, bà

Nguyễn Thị A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam theo hợp đồng tín dụng số 290.HDDTD1.017.20 ngày 12/11/2020 Tính đến ngày 24-9-2025 tổng số tiền là 400.313.486 đồng, trong đó nợ gốc là 350.172.905 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.453.553 đồng, nợ lãi quá hạn là 45.687.028 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thA toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A không trả được nợ, Ngân hàng có

quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 290.HĐTC.017.20 ngày 12 tháng 11 năm 2020 được ký đúng quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại thôn 7, Kỳ Sơn, xã Việt Khê, (cũ là thôn 7, xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên) thành phố Hải Phòng, đã được UBND huyện Thủy Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR504893, số vào sổ cấp GCN: CH00695 cấp ngày 05/6/2019 cho chủ sử dụng là ông Bùi Hữu V.

Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp.

Về án phí sơ thẩm: Ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A phải chịu 20.12.500

đồng án dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam số tiền tạm ứng án phí 10.340.000 đồng tại biên lai thu số 0010600 ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam được quyền

kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Bùi Hữu V, bà Nguyễn Thị A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ