vanban.org

Bản án 45/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 06/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phan Đình N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023. Xử phạt bị cáo Cao Văn C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HSST
Ngày 06/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Kim T;

2. Bà Bùi Thị Minh H;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thanh B, Thư ký Tòa án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền T - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/HSST ngày 06/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 20/02/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Đình N, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: xã C, huyện P, tỉnh B; Chỗ ở trước khi phạm tội: phường Đ, quận B, Thành phố H; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12; Con ông Phan Đình H và bà Nguyễn Thị Hải P (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T (Hiện sống ly thân); Có 01 con, sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 16/3/2005, Công an thành phố Thái Nguyên xử phạt 50.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”.

+ Ngày 08/12/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phan Đình N 18 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 tại Bản án số 254/2006. Ra trại ngày 24/10/2007.

+ Ngày 24/6/2013, Công an thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

Danh chỉ bản số 651 ngày 02/11/2023 do Công an quận Cầu Giấy lập.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 6056C2/24CD. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Cao Văn C, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: Xã H, huyện Đ, tỉnh P; Chỗ ở trước khi phạm tội: xã V, huyện Đ, Thành phố H; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cao Văn C và bà: Phan Thị T; Vợ: Trần V; Có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 652 ngày 02/11/2023 do Công an quận Cầu Giấy lập;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố Hà Nội; Số giam: 43E2/7. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 25/10/2023, N đi một mình đến khu vực cổng bến xe Mỹ Đình, Nam Từ Liêm, Hà Nội để đi xe khách về thành phố Thái Nguyên thì gặp và nhờ C (lái xe ôm) chở đi mua ma túy mục đích để sử dụng, N đồng ý và thống nhất trả tiền công cho C số tiền là 150.000 đồng. Sau đó, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19E1-408.74 màu đỏ, bạc chở N đi đến khu vực đầu bến xe Mỹ Đình gặp một người đàn ông không quen biết (không rõ nhân thân, lý lịch) bán ma túy, sau khi N đặt vấn đề mua ma túy thì người đàn ông hẹn đi cùng đến khu vực đầu ngõ 429 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội để lấy ma túy cho N và nhận số tiền 300.000 đồng. Sau đó, C điều khiển xe mô tô chở N và người đàn ông đi đến đầu khu vực ngõ 429 Kim Mã thì người đàn ông đi vào trong ngõ lấy số ma túy trên đưa cho N. Mua xong, N cất giấu số ma túy trên vào bên trong ví da màu đen để ở túi quần trước bên phải rồi C điều khiển xe mô tô chở N và người đàn ông đi đến khu vực đường Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội thì người đàn ông xuống xe và bỏ đi, N bảo C đưa N về khu vực Nhổn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội và trả thêm tiền công là 60.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi N và C đi đến trước khu vực nhà hát Quân Đội đường Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội thì bị tổ công tác 141 Công an thành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ trong ví màu đen tại túi quần phía trước bên phải của N có 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu đen, tạm giữ của Cương 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19E1-408.74 màu đỏ, bạc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Đình N tại số nhà 7 ngách 32/21 Phố Viên, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội và nơi ở của Cao Văn C tại Làng Chài, xã Võng La, huyện Đông Anh, Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 7194/KL-KTHS ngày 01/11/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy đều là ma túy, loại heroine, tổng khối lượng 0,130 gam”.

Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @ biển kiểm soát: 19E1-408.74 màu đỏ, bạc thuộc sở hữu của chị Trần Thị V, sinh năm 1988, HKTT: thôn Minh Giang, xã Hùng Xuyên, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ - là vợ của Cao Văn C. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của C và N. Ngày 22/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã trao trả chiếc xe mô tô trên cho chị V. Chị V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho N do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSNTL 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy sau khi luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố với các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Phan Đình N mức án từ 18 tháng đến 22 tháng tù, hạn tù tính từ ngày 25/10/2023; Xử phạt bị cáo Cao Văn C mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù, hạn tù tính từ ngày 25/10/2023; Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo; Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Hùng và của Phan Đình N bên trong có chứa ma túy; Trả lại cho bị cáo Phan Đình N 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay xác định được: Khoảng 16 giờ ngày 25/10/2023, tại trước khu vực nhà hát Quân Đội đường Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội, Phan Đình N có hành vi cất giấu trái phép 0,130 gam heroine với mục đích sử dụng. Cao Văn C biết rõ Phan Đình N đi mua ma túy về sử dụng nhưng vẫn đồng ý giới thiệu người chỉ chỗ mua ma túy và trực tiếp chở N đi mua. Sau khi mua xong C tiếp tục chở Nam đến địa điểm sử dụng ma túy. Khi cả hai đang lưu thông trên đường thì bị tổ công tác Y10/KH 141 Công an Thành phố Hà Nội và Công an phường Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải áp dụng mức hình phạt trong khung hình phạt, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Song khi lượng hình cũng xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo C nhân thân chưa tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. HĐXX cũng xem xét đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, bị cáo Nam do nghiện ma túy nên đã chủ động thuê C chở đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo C làm nghề xe ôm chở khách kiếm sống nên khi N thuê, thấy có công nên đã đồng ý giới thiệu người chỉ chỗ cho N để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy C lại tiếp tục chở N đến địa điểm để sử dụng ma túy, trên đường đi thì N và C bị phát hiện, bắt giữ. Xét vai trò, tính chất, mức độ của các bị cáo trong vụ án thì thấy, bị cáo Nam có vai trò cao hơn là người chủ mưu, khởi xướng việc mua và sử dụng ma túy, phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo C.

Ngoài hình phạt chính đáng ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Vật chứng vụ án: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,130gam bên trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Phan Đình N và giám định viên Nguyễn Văn Hùng trên mép dán phong bì niêm phong là chất gây nghiện được Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 105 màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nam.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 (thêm Khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo C); Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Phan Đình N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023.

Xử phạt bị cáo Cao Văn C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2023.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,130gam bên trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Phan Đình N và giám định viên Nguyễn Văn Hùng trên mép dán phong bì niêm phong; Trả lại cho bị cáo Phan Đình N 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 105 màu đen, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên bản giao nhận vật chứng số 93 ngày 23/02/2024.

Về án phí: Bị cáo Phan Đình N và Cao Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ