- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội Vi pham quy định về tham gia giao thô ng đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 45/2024/HS-ST Ngày: 04/04/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Vũ và bà Chế Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tiếp đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L (Tên gọi khác: không), sinh ngày 29/6/1993 tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi cư trú: Thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Wang, huyện ĐăkHà, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn Phương, sinh năm: 1955 và bà Lê Thị Hường, sinh năm: 1955. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình. Tiền án, tiền sư: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời làm chứng: Anh Trương Ngọc Phú, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn 3, xã ĐăkLa, huyện ĐăkHà, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2021, Trương Ngọc Phú đến nhà Nguyễn Văn L tại thôn Kon Stiu II, xã Ngọc Bay, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum) chơi. Trong lúc nói chuyện, do trước đó Nguyễn Văn L không học, không được cấp giấy phép lái xe hạng A1 nên L đã nhờ Trương Ngọc Phú đặt làm giúp giấy phép lái xe giả để sử dụng nhằm đối phó với Cơ quan chức năng để không bị xử phạt hành chính và được Phú đồng ý. Khi về nhà, Phú sử dụng điện thoại của mình lên mạng xã hội Facebook,đăng nhập bằng tài khoản cá nhân của mình là “Ngọc Phú” để tìm kiếm, thấy trang quảng cáo giấy tờ giả (không nhớ tên trang), nên đã bình luận trên trang hỏi đặt làm thì được hướng dẫn cung cấp số điện thoại để kết bạn và trao đổi qua Zalo. Sau khi trao đổi qua Zalo, hai bên thỏa thuận giá tiền làm giấy phép lái xe hạng A1 là 2.500.000 đồng, Phú đã nói lại với L và L đồng ý. Sau đó, L chuyển thông tin cá nhân qua cho Phú, để Phú chuyển cho trang làm giả giấy tờ. Khoảng một tuần sau, Phú nhận được một gói hàng do nhân viên chuyển phát nhanh giao, bên trong có 01 (một) hồ sơ thi sát hạch (gồm bài thi lý thuyết, biên bản thi thực hành, bảng tổng hợp kết quả thi) đề tên Nguyễn Văn L, 01 (một) giấy phép lái xe (giả) hạng A1, số 770217043355 mang tên Nguyễn Văn L, đề nơi cấp là Sở giao thông Vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày cấp là 24/10/2021 và đã đưa toàn bộ cho L. Sau khi nhận được giấy phép lái xe (giả) này, L mang theo bên mình để sử dụng. Ngày 15/9/2023, L điều khiển xe mô tô biển số 82B1-980.40 đi từ nhà của mình đến thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum chơi. Khi đi đến Km1548+300 Quốc lộ 14 thì bị Tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Kon Tum kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn L điều khiển phương tiện mà trong hơi thở có nồng độ cồn nên Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính. Nguyễn Văn L đã xuất trình Giấy phép lái xe (giả) trên cho Tổ công tác kiểm tra để không bị xử lý vi phạm. Phát hiện giấy phép lái xe trên có dấu hiệu làm giả nên Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ giấy phép lái xe này và bàn giao vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum.
Tại Kết luận giám định số 316/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Tỉnh Kon Tum kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1 số 770217043355 mang tên Nguyễn Văn L, số se ri BJ014557 do Sở giao thông vận tải Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 24/10/2021 là giả.
- Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 (giả) số 770217043355 mang tên Nguyễn Văn L;
- 01 (một) bì ni lông gói bưu phẩm màu đen, bên ngoài có tên người nhận là “Ngọc Phú” địa chỉ “Thôn 3, ĐăkLa, ĐăkHà, Kon Tum”.
- 01 (một) hồ sơ thi sát hạch gồm bài thi lý thuyết, biên bản thi thực hành, bảng tổng hợp kết quả thi) đề tên Nguyễn Văn L.
- 01 (một) xe mô tô BKS 82B1-980.40 nhãn hiệu Honda (Winner) là phương tiện mà Nguyễn Văn L điều khiển.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý như sau: Giấy phép lái xe giả và gói bưu phẩm màu đen, bên ngoài có tên người nhận là “Ngọc Phú” địa chỉ “Thôn 3, ĐăkLa, ĐăkHà, Kon Tum”, hồ sơ thi sát hạch gồm bài thi lý thuyết, biên bản thi thực hành, bảng tổng hợp kết quả thi) đề tên Nguyễn Văn L được đưa vào hồ sơ vụ án. Đối với xe mô tô BKS 82B1-980.40 nhãn hiệu Honda (Winner) là phương tiện mà Nguyễn Văn L điều khiển được bàn giao cùng tài liệu liên quan cho Phòng CSGT- Công an tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với điện thoại nhãn hiệu Samsung và sim điện thoại mà Trương Ngọc Phú đã sử dụng để lên mạng xã hội liên lạc, đặt làm giấy phép lái xe (giả), quá trình sử dụng Phú đã làm mất nên không thu giữ được.
Đối với điện thoại của Nguyễn L sử dụng để liên lạc với Trương Ngọc Phú trong thời gian nhờ Trương Ngọc Phú làm giấy phép lái xe giả, quá trình sử dụng L đã làm mất không thu giữ được.
Cáo trạng số 40/CT-VKSTPKT ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và khâu trừ một phần thu nhập.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng:Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng gì đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng tháng 10/2021, bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi đặt làm giấy phép lái xe (giả) hạng A1 trên mạng xã hội để sử dụng. Đến ngày 15/9/2023, bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Kon Tum thổi nồng độ cồn và yêu cầu xuất trình giấy phép lái xe, bị cáo Nguyễn Văn L sử dụng giấy phép lái xe giả này để xuất trình cho Tổ công tác thì bị phát hiện. Hành vi sử dụng giấy tờ giả để trình cho cơ quan chức năng nhằm tránh bị xử lý vi phạm hành chính của bị cáo Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 40/CT-VKSTPKT ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Khi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Bị cáo không có tình tiết tăng trặng trách nhiệm hình sự.Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ và khâu trừ một phần thu nhập. Tuy nhiên, bị cáo trình bày không có thu nhập riêng nên không có khả năng đóng tiền hàng tháng, do đó, không cần thiết xét xử bị cáo hình phạt tù mà xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật và nhằm răn đen, phòng ngừa chung.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum đã thu giữ: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 (giả) số 770217043355 mang tên Nguyễn Văn L; 01 (một) bì ni lông gói bưu phẩm màu đen, bên ngoài có tên người nhận là “Ngọc Phú” địa chỉ “Thôn 3, ĐăkLa, ĐăkHà, Kon Tum”; 01 (một) hồ sơ thi sát hạch gồm bài thi lý thuyết, biên bản thi thực hành, bảng tổng hợp kết quả thi) đề tên Nguyễn Văn L; 01 (một) xe mô tô BKS 82B1-980.40 nhãn hiệu Honda (Winner) là phương tiện mà Nguyễn Văn L điều khiển.
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 (giả) số 770217043355 mang tên Nguyễn Văn L; 01 (một) bì ni lông gói bưu phẩm màu đen, bên ngoài có tên người nhận là “Ngọc Phú” địa chỉ “Thôn 3, ĐăkLa, ĐăkHà, Kon Tum”; 01 (một) hồ sơ thi sát hạch gồm bài thi lý thuyết, biên bản thi thực hành, bảng tổng hợp kết quả thi) đề tên Nguyễn Văn L, đang lưu hồ sơ vụ án.
Đối với xe mô tô BKS 82B1-980.40 nhãn hiệu Honda (Winner) là phương tiện mà Nguyễn Văn L điều khiển được bàn giao cùng tài liệu liên quan cho Phòng CSGT- Công an tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng nồng độ cồn của bị cáo là đúng theo quy định tại điểm e khoản 8 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ.
Đối với điện thoại nhãn hiệu Sam sung và sim điện thoại mà Trương Ngọc Phú đã sử dụng để lên mạng xã hội liên lạc, đặt làm giấy phép lái xe (giả), quá trình sử dụng Phú đã làm mất nên không thu giữ được. Đối với điện thoại của bị cáo Nguyễn L đã sử dụng để liên hệ với Trương Ngọc Phú trong thời gian nhờ Trương Ngọc Phú làm giấy phép lái xe giả, quá trình sử dụng bị cáo đã làm mất nên không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, Trương Ngọc Phú là người liên hệ với trang làm giả giấy tờ, sau đó chuyển thông tin của Nguyễn Văn L cho trang này để làm giả giấy tờ giúp cho Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, chưa xác định được đối tượng trực tiếp làm giả giấy tờ theo yêu cầu của Phú nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L, phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu)tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Ngọc Wang, huyện ĐăkHà, tỉnh Kon Tum để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án này và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh KonTum;
- VKSND tỉnh Kon Tum;
- VKSND TP. KonTum;
- Công an TP. KonTum;
- Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Chi cục THA DS TP. Kon Tum;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh Kon Tum;
- Nhà Tạm giữ CA TP. Kon Tum;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh KonTum;
- VKSND tỉnh Kon Tum;
- VKSND TP. KonTum;
- Công an TP. KonTum;
- Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Chi cục THA DS TP. Kon Tum;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh Kon Tum;
- Nhà Tạm giữ CA TP. Kon Tum;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
SƠ THẨM
- TAND tỉnh KonTum;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên
tòa
- VKSND tỉnh Kon Tum;..........................................................................................
- VKSND TP. KonTum;
- Công an TP. KonTum;
- Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Chi cục THA DS TP. Kon Tum;............................................................................
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh Kon Tum; ...........................................................................
- Nhà Tạm giữ CA TP. Kon Tum;
- Các bị cáo;
- Bị hại, Người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
SƠ THẨM
- TAND tỉnh KonTum;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên
tòa
- VKSND tỉnh Kon Tum;..........................................................................................
- VKSND TP. KonTum;
- Công an TP. KonTum;
- Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Chi cục THA DS TP. Kon Tum;............................................................................
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh Kon Tum; ...........................................................................
- Nhà Tạm giữ CA TP. Kon Tum;
- Các bị cáo;
- Bị hại, Người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh KonTum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - VKSND TP. KonTum; - Công an TP. KonTum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Chi cục THA DS TP. Kon Tum; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Kon Tum; - Nhà Tạm giữ CA TP. Kon Tum; - Các bị cáo; - Bị hại, Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. Thành viên Hội đồng xét xử | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |