vanban.org

Bản án 45/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử đối với Lê Văn T7 về tội “Giết người”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Kèm theo Cáo trạng có: Hồ sơ vụ án gồm 1 tập, bằng…….tờ, đánh số bút lục từ 01 đến…. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử đối với Lê Văn T7 về tội “Giết người”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2024/HS-ST
Ngày 15 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xétxử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Văn Toàn

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Thắng

Bà Nguyễn Thị Phẩm

- Thư ký phiên tòa:Bà Ngô Thị Hà Thu- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:Bà Hà Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 15tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khaivụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TL-HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024đốivới bị cáo:

Họ và tên:Vũ Trung C- sinh ngày 17/9/1976;HKTT: Khu Q, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;Số CMND: 131104838, do Công an tỉnh Pcấp ngày 16/9/2003;Văn hoá:12/12;Nghề nghiệp: Kinh doanh;Bố đẻ: Vũ Đình H- sinh năm 1943; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T-sinh năm 1952; Cả bố và mẹ đều nghỉ hưu tại tổ B, khu Q, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người, bị cáo là thứ nhất;Vợ: Đặng Thị Thu H1- sinh năm 1978; đã ly hôn;Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006;Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2001, Vũ Trung Cbị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp tài sản” (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắttruy nã từ ngày 03/4/2023 đến nay. Hiệnđang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh P.Có mặt

Ngƣời bị hại:

1. Ngân hàng N3-Chi nhánh tỉnh P;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc S- Phó giám đốcNgân hàng N3-Chi nhánh tỉnh P. Địa chỉ: Đường T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt

2. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh P(nay là Ngân hàng Hợp tác xã tỉnh N3); Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc L - Phó trưởng phòng khách hàng doanh nghiệp và cá nhân. Địa chỉ:Số nhà A, Đại lộ H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Quang T1- sinh năm 1978. HKTT: Tổ 2, Khu Q, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

2. Bà Đặng Thị Thu H1- sinh năm 1978, tổ C, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.Có mặt

3. Ông ông Phạm Hồng S1 - sinh năm 1965, có hộ khẩu ởsố 04, đường L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

4. Công ty T10, địa chỉ: Tổ E, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.Đại diện Công ty là Vũ Trung C - sinh năm 1976;HKTT: Khu Q, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (là bị cáo trong vụ án). Có mặt

5. Công ty cổ phần Đ2, địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu G, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.Đại diện Công ty:Ông Đặng Xuân C1 - sinh năm 1979. HKTT: Khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tạm trú: Số nhà B, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Ngƣời làm chứng:

1. Ông Hà Hoài N - sinh năm 1980, có hộ khẩu thường trú ở khu D, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

2. Ông Nguyễn Đức T2- sinh năm 1969, có hộ khẩu thường trú ở khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

3. Ông Trần Quốc B- sinh năm 1957 có hộ khẩu thường trú ở khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

4. Bà Nguyễn Thị Kim H2 - sinh năm 1965, có hộ khẩu thường trú ở tổ E, Khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

5. Bà Hồ Thị Bích T3 - sinh năm 1961, có hộ khẩu thường trú ở C, Hồ B, T, Đ, Hà Nội. Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Trung C - sinh năm: 1976; có hộ khẩu thường trú ởtổ 2, khu Q, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốcCông ty TNHH T10(Gọi tắt là Công ty T10). Công ty được thành lập vàhoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1802000405 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp ngày 27/05/2004. Địa chỉ trụ sở: Tổ E, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngành nghề kinh doanh: Vận tải hàng hóa và thực hiện một số công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, đường điện đến 35KV và trạm biến áp đến 1000KVA trong và ngoài nước.

Trong thời gian điều hành hoạt động của Công ty, Vũ Trung Cđã có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của 02 tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ sau đó bỏ trốn. Ngày 03/4/2023, Vũ Trung Cbị bắt truy nã khi đang lẩn trốn tại thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:

Để có kinh phí phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty T10, trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2009, Vũ Trung Cđại diện Công ty T10và thông qua Công ty Cổ phần Đ2(địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu G, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ) đã sử dụng 25 phương tiện (12 xe máy chuyên dùng, 13 xe ôtô) của Công ty T10và 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn tại Ngân hàng N3chi nhánh P(gọi tắt là Ngân hàng N3) và N3- chi nhánh tỉnh P(nay là Ngân hàng H3 - chi nhánh P; gọi tắt là: Quỹ tín dụng Phú Thọ) với tổng số tiền là 9.400.000.000 đồng. Mặc dù biết 25 phương tiện nêu trên là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng nhưng Vũ Trung Cđã tự ý đemcác phương tiện đang thế chấp tại 2 tổ chức tín dụng trên “gán” cho người khác để trả nợ khoản vay trước đó của C rồi bỏ trốn để tránh nghĩa vụ trả nợ. Tổng số tiền mà Vũ Trung Cchiếm đoạt của hai tổ chức tín dụng là 7.760.000.000đđồng (trong đó chiếm đoạt số tiền 6.050.000.000đồng của Quỹ tín dụng Phú Thọvà chiếm đoạt số tiền 1.710.000.000 đồng của Ngân hàng N3).Cụ thể:

1. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số tiền 1.710.000.000 đồng của Vũ Trung Ctại Ngân hàng N3chi nhánh tỉnh P:

Tháng 9/2005, bà Nguyễn Thị Kim H2 - sinh năm 1965, hộ khẩu thường trú ở tổ E, Khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Nguyênlà cán bộ tín dụng được giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ vay vốn của Công ty T10. Sau đó bà H2đã lập báo cáo thẩm định, trình bà Hồ Thị Bích T3 - sinh năm 1961, hộ khẩu thường trú ởC, Hồ B, T, Đ, Hà Nội- Nguyên phó trưởng phòng tín dụng xác nhận và được ông Đỗ Đình V-Phó giám đốc Ngân hàng N3phê duyệt (hiện ông Vđã chết).

Ngày 29/9/2005, Công ty T10ký hợp đồng tín dụng số 050533001 với Ngân hàng N3vay số tiền 1.900.000.000 đồng (vay trung hạn 05 năm), mục đích vay vốn: Mua 3 xe ôtô loại đầu kéo và 3 xe ô tô Hyundai Ben. Tài sản thế chấp là tài sản hình thành từ vốn vay theo 02 hợp đồng kinh tế, gồm: Hợp đồng kinh tế số 02 ngày 12/9/2005 Công ty T10mua của Công ty TNHH T11, địa chỉ: T, V, Phú Thọ02 xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19L-4731, 19L-4704 với tổng giá trị là 1.100.000.000 đồng (theo giá trị hợp đồng); Hợp đồng kinh tế số 56/HĐKT ngày 04/9/2005 Công ty T10mua của Công ty Cổ phần C5, địa chỉ: V, H, Hà Nội04 xe ô tô biển kiểm soát: 19K-1165, 19K-0260, 19K-0544, 19L-4483 với tổng giá trị là 1.960.000.000 đồng (theo giá trị hợp đồng) và tài sản của bên thứ 3 để bảo lãnh cho khoản vay là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AB808220 do UBND thành phố Vcấp ngày 12/7/2005 và tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 3 đứng tên ông Vũ Việt D - sinh năm1984 ở Khu H, M, V, Phú Thọ(là người quen của Vũ Trung C) được Ngân hàng N3định giá là 384.000.000 đồng.

Ngân hàng N3đã tiến hành giải ngân toàn bộ số tiền 1.900.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Công ty TNHH T11, Công ty Cổ phần C5và tiền mặt cho Công ty T10. Sau đó Vũ Trung Clàm thủ tục chuyển quyền sở hữu từ Công ty TNHH T11và Công ty cổ phần C5sang cho Công ty T10đối với 5 xe ôtô gồm: Xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19L-4731, xe ôtô Hyundaibiển kiểm soát: 19L-4704; xe ôtô Daewoo biển kiểm soát: 19K-1165, xe ôtô Daewoo biển kiểm soát: 19K-0260 và xe ôtô Đông Á biển kiểm soát: 19K-0544. Do thấy 3 tài sản thế chấp cho các hợp đồng kinh tế gồm: Hợp đồng kinh tế số 02 ngày 12/9/2005, hợp đồng kinh tế số 56/HĐKT ngày 04/9/2005 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AB808220 và tài sản gắn liền với đất không đủ để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên. Nên Ngân hàng N3đã yêu cầu Công ty T10bổ sung 3 xe ôtô gồm: Xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19R-0026, xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19R-0018, xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19L-6347 làm tài sản thế chấp cho khoản vay trên. Ngân hàng N3định giá 8 xe ôtô gồm: Xe ôtô Hyundaibiển kiểm soát: 19L-4731 và xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19L-4704; xe ôtô Daewoo biển kiểm soát: 19K-1165, xe ôtô Daewoo biển kiểm soát: 19K-0260 và xe ôtô Đông Á biển kiểm soát: 19K-0544, xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19R-0026, xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19R-0018, xe ôtô Hyundai biển kiểm soát: 19L-6347 là 2.700.000.000 đồng (theo phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số 01PL/2005/HTVV ngày 12/12/2005). Như vậy, tổng giá trị của 9 tài sản thế chấp gồm: 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 8 xe ôtô là 3.084.000.000 đồng. Sau khi được giải ngân vay vốn theo hợp đồng tín dụng nêu trên, Vũ Trung Cđã tự ý gán 8 phương tiện cho các cá nhân trước đó. Đến hết thời hạn hợp đồng do Công ty T10không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Ngân hàng N3đã nhiều lần làm văn bản gửi Công ty T10đề nghị bàn giao tài sản đảm bảo gồm 8 xe ôtô nêu trên để bán phát mại tài sản thu hồi công nợ nhưng không được vì Vũ Trung Cđã bỏ trốn. Sau đó Ngân hàng N3đã bán phát mại tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với tài sản gắn liền với đất của ông Vũ Việt Dvới số tiền là 160.000.000 đồng để thu hồi nợ gốc của Công ty T10. Ngày 19/10/2023, gia đình Vũ Trung Cđã khắc phục số tiền 1.760.000.000 đồng (trong đó gốc: 1.710.000.000 đồng và lãi: 50.000.000 đồng) cho Ngân hàng N3.

Khi thế chấp tài sản là các phương tiện (xe ô tô, sơmi rơ moóc) để vay vốn, Công ty TNHH T10không cung cấp các hợp đồng, hóa đơn chứng minh trị giá tài sản để làm căn cứ định giá tài sản thế chấp. Cán bộ tín dụng là bà Nguyễn Thị Kim H2khẳng định bà H2có tiến hành khảo sát giá thị trường và kiểm tra thực tế khi định giá các phương tiện mà Công ty T10sử dụng để thế chấp tại Ngân hàng N3nhưng không lập biên bản đưa vào hồ sơ định giá để trình bà Hồ Thị Bích T3phê duyệt thẩm định và ông Đỗ Đình Vxét duyệt cho công ty T10vay vốn.

Mặc dù trên hóa đơn GTGT có trong hồ sơ đăng ký tại phòng C6Công an tỉnh Pthể hiện 8 phương tiện mà công ty T10sử dụng để thế chấp như đã nêu trên có giá mua thấp hơn nhiều giá trị định giá. Nhưng bị can Vũ Trung Ckhẳng định 8 phương tiện (xe ô tô, sơmi rơ moóc) được Vũ Trung Cmua với giá cao hơn so với giá trị thể hiện trên hóa đơn GTGT, còn việc các đối tượng xuất hóa đơn GTGT để công ty T10sử dụng làm thủ tục đăng ký tại phòng C6Công an tỉnh P. Đại diện các đơn vị bán 8 phương tiện cho công ty T10cũng đều khẳng định giá bán trên hóa đơn làm thủ tục đăng ký phương tiện thấp hơn so với bán thực tế nhưng đến nay không còn tài liệu lưu trữ.

Do vậy chưa đủ cơ sởxác định giá mua thể hiện trên hóa đơn có trong hồ sơ đăng ký là giá trị thực tế của 8 phương tiện tại thời điểm công ty T10sử dụng làm tài sản thế chấp để vay vốn.

Trong vụ án này, Vũ Trung Cđã chiếm đoạt của Ngân hàng N3Chi nhánh Ptổng số tiền 1.710.000.000 đồng. Đồng thời phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự trả lãi đối với khoản vay vốn số tiền: 1.346.000.000 đồng.

2. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số tiền 6.050.000.000 đồng của Vũ Trung Ctại Quỹ tín dụng nhân dân trung ương tỉnh N3(nay là Ngân hàng H3- chi nhánh P):

Từ năm 2007 đến năm 2009, ông Hà Hoài N - sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú ởkhu D, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ -Nguyên cán bộ tín dụng được giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ vay vốn của Công ty T10và Công ty Đ2. Sau đó, ông Nđã lập báo cáo thẩm định trình ông Nguyễn Đức T2 - sinh năm1969, có hộ khẩu thường trú ởkhu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ-Nguyên trưởng phòng tín dụng phê duyệt thẩm định và được ông Trần Quốc B - sinh năm 1957 có hộ khẩu thường trú ởkhu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ- Nguyên Giám đốc Quỹ tín dụng N3 phê duyệt cho công ty T10và Công ty Đ2vay vốn theo 5 hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 8.500.000.000 đồng, gồm:

* Ngày 06/6/2007,Công ty T10ký hợp đồng tín dụng số DHCBL00001 với Quỹ tín dụng Phú Thọ vay số tiền: 1.500.000.000 đồng (trung hạn 03 năm), mục đích vay vốn: Mua ô tô; Tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK034085 do UBND thành phố Vcấp ngày 29/5/2007 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 04 tầng của Vũ Trung Cvà bà Đặng Thị Thu H1ở khu F, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ(là tài sản của bên thứ 3 được Quỹ tín dụng Phú Thọ định giá là 3.008.000.000 đồng). Quỹ tín dụng Phú Thọ đã giải ngân tiền mặt số tiền 1.500.000.000 đồng cho Công ty T10. Đến thời hạn hợp đồng do Công ty T10không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Quỹ tín dụng Phú Thọđã yêu cầu Vũ Trung Cgiao nộp tài sản thế chấp để bán phát mại thu hồi nợ gốc và nợ lãi. Ngày 13/8/2009, Vũ Trung Ccùng vợ là Đặng Thị Thu H1đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho ông Lê Văn B1-sinh năm 1956 và bà Hà Thị T4-sinh năm 1959 có hộ khẩu ởkhu F, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọvới số tiền là 1.440.000.000 đồng để trả nợ gốc cho Qtín dụng Phú Thọ.

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00001 là 110.769.672 đồng (nợ gốc: 60.000.000 đồng, nợ lãi: 50.769.672 đồng).

* Ngày 17/4/2008, Công ty T10ký Hợp đồng tín dụng số DHCBL00002 với Quỹ tín dụng Phú Thọ vay số tiền: 2.800.000.000 đồng (trung hạn 05 năm), mục đích vay: Trả tiền mua phương tiện vận tải và máy móc thiết bị; Tài sản thế chấp là 9 phương tiện gồm: Xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 19L-4483; xe ô tô sơ-mi rơ-moóc biển kiểm soát: 19R-0066; xe ôtô sơ-mi rơ-moóc số khung: 000002; xe ôtô sơ-mi rơ-moóc số khung: 000240; xe ôtô sơ-mi rơ-moóc số khung: 000043; máy xúc đào biển kiểm soát: 19XA-0135; máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0233; máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0234; máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0235 được Quỹ tín dụng Phú Thọ định giá tổng giá trị là: 4.200.000.000 đồng. Quỹ tín dụng Phú Thọđã giải ngân tiền mặt số tiền 2.800.000.000 đồng cho Công ty T10.

Mặc dù biết 9 phương tiện nêu trên là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng nhưng Vũ Trung Cđã tự ý gán các phương tiện để trả nợ cho các khoản vay cá nhân trước đó. Kết quả điều tra chỉ xác định Vũ Trung Cđã gán xe ôtô Hyundaibiển kiểm soát 19L-4483 và xe ôtô Hyundai biển kiểm soát 19L-4731 cho ông Phạm Hồng S1

- sinh năm 1965 có hộ khẩu ởsố 04, đường L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An là Phó Giám đốc Công ty TNHH T12với số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó, ông Phạm Hồng S1đã tự nguyện giao nộp xe ôtô Hyundai biển kiểm soát 19L-4483 cho phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Pđể bàn giao cho Quỹ tín dụng Phú Thọ. Ông Phạm Hồng S1không yêu cầu Vũ Trung Cphải trả số tiền 300.000.000 đồng đã vay trước đó; 8 phương tiện còn lại không xác định được đã gán cho các cá nhân nào.

Đến thời hạn hợp đồng do Công ty T10không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Quỹ tín dụng Phú Thọ đã nhiều lần yêu cầu Công ty T10giao nộp tài sản thế chấp để bán phát mại thu hồi nợ gốc và lãi nhưng không được vì Vũ Trung Cđã bỏ trốn. Quỹ tín dụng Phú Thọ đã bán phát mại xe ôtô Hyundaibiển kiểm soát 19L-4483 cho ông Nguyễn Văn M - Địa chỉ: xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúcvới số tiền là 210.000.000 đồng để thu hồi nợ gốc của Công ty T10.

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00002 là 5.620.412.598 đồng (nợ gốc: 2.590.000.000 đồng, nợ lãi: 3.030.412.598 đồng).

* Ngày 23/4/2008, Công ty T10ký hợp đồng tín dụng số DHCBL00003 với Quỹ tín dụng Phú Thọ vay số tiền: 800.000.000 đồng (dài hạn 10 năm), mục đích vay: trả tiền mua xe ôtô; Tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S690057 do UBND thành phố Vcấp ngày 19/9/2002 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở 2 tầng đứng tên ông Vũ Đình H, bà Nguyễn Thị T(bố, mẹ đẻ của Vũ Trung C) (là tài sản của bên thứ 3 được Quỹ tín dụng Phú Thọ định giá là 1.631.000.000 đồng). Quỹ tín dụng Phú Thọ đã giải ngân tiền mặt số tiền 800.000.000 đồng cho Công ty T10.

Đến thời hạn hợp đồng do Công ty T10không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Quỹ tín dụng Phú Thọ đã yêu cầu ông Vũ Đình H, bà Nguyễn Thị Tgiao nộp tài sản thế chấp để bán phát mại thu hồi nợ gốc và nợ lãi. Ngày 17/5/2010, ông Vũ Đình Hvà bà Nguyễn Thị Tđã chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho bà Vũ Thị Thanh T5ở T, V, Phú Thọvà nộp toàn bộ số tiền 800.000.000 đồng để trả cho Qtín dụng Phú Thọ.

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00003 là 306.180.000 đồng (nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi: 306.180.000 đồng).

* Ngày 29/4/2008, Công ty T10ký hợp đồng tín dụng số DHCBL00004 với Quỹ tín dụng Phú Thọ vay số tiền: 2.400.000.000 đồng (trung hạn 5 năm), mục đích vay: Trả tiền mua phương tiện vận tải và máy móc thiết bị; Tài sản thế chấp là 6 phương tiện gồm: máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0243, máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0244, máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0245, máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0246, máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0247 và máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0248 được Quỹ tín dụng Phú Thọ định giá là 4.800.000.000 đồng. Quỹ tín dụng Phú Thọ đã giải ngân tiền mặt số tiền 2.400.000.000 đồng cho Công ty T10.

Mặc dù biết 6 phương tiện nêu trên là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng nhưng Vũ Trung Cđã tự ý gán các phương tiện để trả nợ cho các khoản vay cá nhân trước đó (hiện không xác định được đã gán cho các cá nhân nào). Đến thời hạn hợp đồng do Công ty T10không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Quỹ tín dụng Phú Thọ đã nhiều lần yêu cầu công ty T10giao nộp tài sản thế chấp để bán phát mại thu hồi nợ gốc và lãi nhưng không được vì Vũ Trung Cđã bỏ trốn.

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00004 là 5.481.667.663 đồng (nợ gốc: 2.400.000.000 đồng, nợ lãi: 3.081.667.663 đồng).

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, tổng số tiền Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo 04 hợp đồng nêu trên là: 11.519.029.933 đồng (nợ gốc: 5.050.000.000đ, nợ lãi: 6.469.029.933 đồng).

Tính đến thời điểm hiện tại, theo kết quả giám định bổ sung ngày 25/3/2024 của Ngân hàng Nhà nước tỉnh N3thìtổng số tiền Công ty T10còn nợ Quỹ tín dụng N3theo 04 hợp đồng nêu trên là: 30.066.731.738 đồng (nợ gốc: 5.050.000.000đ, nợ lãi: 24.016.731.738 đồng).

* Do Công ty T10không được vay thêm tiền tại Quỹ tín dụng Phú Thọ nên Vũ Trung Cthành lập Công ty Cổ phần Đ2có địa chỉ ở số nhà A, tổ A, khu G, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọvà nhờ em trai vợ là anh Đặng Xuân C1đứng tên là Giám đốc Công ty để sử dụng Công ty Đ2vay thêm tiền tại Quỹ tín dụng Phú Thọ. Ngày 24/3/2009, Công ty Đ2ký hợp đồng tín dụng số TT60800001 với Quỹ tín dụng Phú Thọ vay vốn số tiền là: 1.000.000.000đ (vay ngắn hạn 01 năm), mục đích vay: Vốn lưu động phục vụ thi công công trình; Tài sản thế chấp là 2 phương tiện gồm: máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0269 và máy ủi KOMATSU biển kiểm soát: 19XA-0270 đứng tên Công ty T10(là tài sản của bên thứ 3 được Quỹ tín dụng Phú Thọ định giá là 1.600.000.000 đồng). Quỹ tín dụng Phú Thọ giải ngân tiền mặt số tiền 1.000.000.000 đồng cho Công ty Đ2. Vũ Trung Cđã sử dụng số tiền này để trả nợ lãi cho các khoản vay trước đó của Công ty T10tại Quỹ tín dụng N3, cụ thể: Trả nợ lãi số tiền 252.600.000 đồng cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00001; trả nợ lãi số tiền 522.775.000 đồng cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00002; trả nợ lãi số tiền 147.300.000 đồng cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00003 và trả nợ lãi số tiền 377.305.000 đồng cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số DHCBL00004.

Mặc dù biết 2 phương tiện nêu trên là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng nhưng Vũ Trung Cđã tự ý gán các phương tiện để trả nợ cho các khoản vay cá nhân trước đó (hiện không xác định được đã gán cho các cá nhân nào). Đến thời hạn hợp đồng do Công ty Đ2không thực hiện nghĩa vụ trả lãi, trả gốc theo quy định nên Quỹ tín dụng Phú Thọ đã nhiều lần yêu cầu công ty T10giao nộp tài sản thế chấp để bán phát mại thu hồi nợ gốc và lãi nhưng không được vì Vũ Trung Cđã bỏ trốn.

Tính đến thời điểm khởi tố vụ án, Công ty Đ2còn nợ Quỹ tín dụng N3theo hợp đồng tín dụng số TT60800001 là 1.561.115.460 đồng (nợ gốc: 1.000.000.000 đồng, nợ lãi: 561.115.460 đồng).

Khi thế chấp tài sản là các phương tiện (xe ô tô, máy ủi, máy xúc) để vay vốn theo 5 hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty TNHH T10không cung cấp các hợp đồng, hóa đơn chứng minh trị giá tài sản bảo đảm (theo quy định tại khoản 5, Điều 13, Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1371/QTDTW ngày 24/10/2002 do Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương ban hành) để làm căn cứ định giá tài sản thế chấp. Cán bộ thẩm định là ông Hà Hoài Nkhẳng định ông Ncó tiến hành khảo sát giá thị trường và kiểm tra thực tế khi định giá các phương tiện (xe ô tô, xe máy ủi, xe máy xúc) là tài sản thế chấp theo quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 7 Quyết định số 67/2004/QĐ-QTDTW ngày 15/6/2004 của Quỹ tín dụng trung ương nhưng không lập biên bản đưa vào hồ sơ định giá để trình ông Nguyễn Đức T2phê duyệt thẩm định và ông Trần Quốc Bình xét dcho Công ty T10và công ty Đ2vay vốn.

Mặc dù trên hóa đơn GTGT có trong hồ sơ đăng ký tại phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Pvà Sở giao thông vận tải tỉnh Pthể hiện 17 phương tiện mà Công ty T10sử dụng để thế chấp ở 5 khoản vay như đã nêu trên có giá mua thấp hơn giá trị định giá. Nhưng bị can Vũ Trung Ckhẳng định 17 phương tiện (Xe ô tô, xe máy ủi, xe máy xúc) được Vũ Trung Cgiao cho các nhân viên công ty (hiện không nhớ cụ thể là ai) liên hệ, mua với giá cao hơn so với giá trị thể hiện trên hóa đơn GTGT còn việc các công ty xuất hóa đơn GTGT để Công ty T10sử dụng làm thủ tục đăng ký tại phòng C6 - Công an tỉnh Pvà Sở giao thông vận tải tỉnh P. Đại diện các đơn vị bán 17 phương tiện cho Công ty T10cũng đều khẳng định giá bán trên hóa đơn làm thủ tục đăng ký phương tiện thấp hơn so với bán thực tế nhưng đến nay các đơn vị này đều đã ngừng hoạt động, giải thể, không còn tài liệu lưu trữ nên không xác minh được.

Mặt khác, quá trình điều tra không xác định được Vũ Trung Cđã bán, “gán nợ” các phương tiện là tài sản thế chấp cho ai, địa chỉ ở đâu nên không thu hồi được để tiến hành định giá lại.

- Ngày 14/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Pđã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 281 đến phòng K1 - Công an tỉnh Pgiám định 09 đăng ký xe ôtô và 12 Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng tạm giữ của Ngân hàng N3và Quỹ tín dụng N3. Tại bản kết luận giám định số: 1231 ngày 22/9/2023 của phòng K1 - Công an tỉnh Pkết luận: “09 đăng ký xe ôtô và 12 Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng là thật”

- Ngày 10/11/2023, Cơ quan CSĐT (PC03) - Công an tỉnh Pđã ra Quyết định trưng cầu giám định số 358/QĐ-CSKT trưng cầu Ngân hàng N4chi nhánh tỉnh P. Tại bản Kết luận giám định ngày 12/12/2023 của Ngân hàng N4chi nhánh tỉnh Pkết luận:

“a. Quy trình cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh N3(nay là N5chi nhánh P) và NHNo&PTNT chi nhánh Pđối với các khoản vay của Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2theo hồ sơ ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6 có một số nội dung chưa được thực hiện đúng theo quy định, cụ thể là các tồn tại, hạn chế nêu ở phần trên. Các tồn tại, hạn chế này đều ở mức độ vi phạm hành chính, vi phạm quy định nội bộ của từng tổ chức tín dụng; chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 32/12/2001 của Thống đốc N6và các quyết định, quy định nội bộ của Quỹ tín dụng Trung ương và NHNo&PTNT.

b. Hành vi của Công ty TNHH T10không cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về tình hình tài chính, dùng tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng để kê khai là vốn tự có của doanh nghiệp, vi phạm hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay, vi phạm nguyên tắc vay vốn, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ … là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại cho Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh P(nay là N5chi nhánh P) và NHNo&PTNT chi nhánh P. Về mức độ thiệt hại cụ thể, qua hồ sơ, tài liệu hiện có là chưa đủ cơ sở xác định vì (1) Gia đình ông Vũ Trung Cmới chỉ ở mức độ là cam kết trả nợ cho Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2số tiền là 6.050.000.000 đồng nợ gốc tại Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh N3, chưa thực hiện khắc phục hậu quả thực tế. (2) Đối với các khoản nợ lãi, xác định cụ thể bao nhiêu thì nó còn phụ thuộc vào cơ chế tính toán lãi vay quá hạn, lãi phạt và cơ chế, mức độ miễn giảm lãi cụ thể của NHNo&PTNT và Quỹ tín dụng Trung ương (nay là NHHTX) đối với các trường hợp này.”

- Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT (PC03) - Công an tỉnh Pđã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 496/QĐ-CSKT trưng cầu Ngân hàng N4chi nhánh tỉnh P. Tại bản Kết luận giám định ngày 25/03/2024 của Ngân hàng N4chi nhánh tỉnh Pkết luận:

“a. Quy trình cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh N3(nay là N5chi nhánh P) và NHNo&PTNT chi nhánh Pđối với các khoản vay của Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2theo hồ sơ ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6 có một số nội dung chưa được thực hiện đúng theo quy định, cụ thể là các tồn tại, hạn chế nêu ở phần trên. Các tồn tại, hạn chế này đều ở mức độ vi phạm hành chính, vi phạm quy định nội bộ của từng tổ chức tín dụng; chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 32/12/2001 của Thống đốc N6và các quyết định, quy định nội bộ của Quỹ tín dụng Trung ương và NHNo&PTNT.

b. Hành vi của Công ty TNHH T10không cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về tình hình tài chính, dùng tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng để kê khai là vốn tự có của doanh nghiệp, vi phạm hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay, vi phạm nguyên tắc vay vốn, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ … là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại cho Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương tỉnh P(nay là N5chi nhánh P) và NHNo&PTNT chi nhánh P.

Mức độ thiệt hại cụ thể: Tại NHNo&PTNT chi nhánh Psố tiền lãi khách hàng được giảm là 828,5trđ. Tại NHHTX chi nhánh tỉnh P: thời điểm 22/01/2013 số tiền chưa thu được từ khách hàng là 13.076,1trđ (6.050 trđ nợ gốc, 7.026,1 trđ nợ lãi); thời điểm 14/3/2024 số tiền chưa thu được từ khác hàng là 32.822 trđ (6.050 trđ nợ gốc, 26.772 trđ nợ lãi).

Tại Cơ quan điều tra bị can Vũ Trung Cđã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên,phù hợp với nội dung khai báo của những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra,Vũ Trung Ccòn khai nhận: Mỗi lần làm thủ tục vay tiền, Cđều phải bỏ ra một khoản tiền tương ứng với 4-10% giá trị tiền vay trong Hợp đồng để “cảm ơn” ông Trần Quốc B. Tuy nhiên, ông Bkhông thừa nhận nội dung này, ngoài lời khai của Ckhông có tài liệu nào khác chứng minh.

Như vậy, trong vụ án này, Vũ Trung Cphải chịu trách nhiệm hình sự đối với khoản tiền gốc do Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2vay còn chưa trả cho Ngân hàng N3(nay là Ngân hàng H3- chi nhánh P) tổng số là: 7.760.000.000đ (Bảy tỷ bảy trăm sáu mƣơi triệu đồng); trong đó: Của Ngân hàng N3là: 1.710.000.000đ; của Ngân hàng N3là: 6.050.000.000đ.

Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra cũng như trong giai đoạn truy tố, bị can Vũ Trung Cđã tác động đến gia đình bồi thường cho Ngân hàng N3tổng số tiền là 1.760.000.000đ (trong đó: Tiền gốc: 1.710.000.000đ, tiền lãi: 50.000.000đ), Ngân hàng N3không yêu cầu bị can phải bồi thường gì thêm; gia đình bị can đã nộp tiền trả cho Ngân hàng H3- chi nhánh Ptổng số tiền: 6.150.000.000 đồng (trong đó: Tiền gốc: 6.050.000.000đ, tiền lãi: 100.000.000đ). Bị can còn phải trả cho Ngân hàng H3- chi nhánh Ptiền lãi theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSPT-P2ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Vũ Trung C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng đã nêuvà đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Vũ Trung Cphạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1, 2Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sựnăm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáoVũ Trung Ctừ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngàybắttruy nã là ngày 03/4/2023.

Không áp dụnghình phạt bổ sungđối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.

Xác nhận gia đình bị cáo Vũ Minh C2đã trả cho Ngân hàng N3tổng số tiền là 1.760.000.000đ (trong đó tiền gốc1.710.000.000đ, tiền lãi: 50.000.000đ).

Xác nhận gia đình bị cáoVũ Minh C2đã trả cho Ngân hàng H3 - chi nhánh Ptổng số tiền: 6.150.000.000 đồng (trong đó tiền gốc 6.050.000.000đ, tiền lãi100.000.000đ).

Buộc Công ty TNHH T10 trả choNgân hàng H3 - chi nhánh P số tiền lãi là:24.594.620.030đồng.

BuộcCông ty cổ phần Đ2trả choNgân hàng H3 - chi nhánh P số tiền lãi:2.334.819.760đồng

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Trung Cphải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

BuộcCông ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ3chịu án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáothừa nhận hành vi phạm tội của mình và không tranh luậngì.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạtcho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận địnhnhư sau:

Về tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều từ chối luật sư chỉ định bào chữa cho bị cáo, bị cáo xin tự bào chữa, do vậy Hội đồng xét xử không chỉ định Luật sư bào chữa cho bị cáo.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặtông Phạm Hồng S1là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanvà những người làm chứng, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đều đề nghị xét xử vắng mặt những người trên nên Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ ánra xét xử.

Về đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T10: Công ty chỉ có 02 thành viên là Vũ Trung Cvà chị Đặng Thị Thu H1, chị H1 khẳng định chỉ đứng tên để thành lập Công ty, không có tài sản gì trong đó cũng không biết và không tham gia điều hành Công ty nên không liên quan đến Công ty, không đứng tên làm đại diện Công ty. Do đó, người đại diện Công ty là Vũ Trung C.

Về đánh giá chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2009, Vũ Trung Clà Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty TNHH T10đã sử dụng tài sản của Công ty là các phương tiện vận tảiđể thế chấp vay tiền của Ngân hàng N3, với tổng số tiền: 1.900.000.000 đồng vàN3- chi nhánh T, nay làNgân hàng H3 - chi nhánh Pvới tổng số tiền 8.500.000.000 đồng. Ngoài ra, Vũ Trung Ccòn sử dụng phương tiện vận tải của Công ty T10bảo lãnh choCông ty Cổ phần Đ2 vay của N3- chi nhánh T, nay làNgân hàng H3 - chi nhánh P số tiền 1.000.000.000 đồng (tổng số phương tiện vận tải dùng để thế chấp cho các tổ chức tín dụng này là 25 phương tiện). Sau đó, Vũ Trung Cđã tự ý đem các phương tiện vận tải là tài sản đã thế chấp trên để “gán nợ” cho các đơn vị, cá nhân khác để trừ nợ, dẫn đến mất khả năng thanh toán sau đó bỏ trốn. Số tiền bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là:Khoản tiền gốc do Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2vay còn chưa trả cho Ngân hàng N3và Ngân hàng H3- chi nhánh Ptính đến thời điểm khởi tố vụ án, tổng là: 7.760.000.000đ (Bảy tỷ bảy trăm sáu mƣơi triệu đồng); trong đó: Của Ngân hàng N3là: 1.710.000.000đ; của Ngân hàng H3- chi nhánh Plà: 6.050.000.000đ.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội như trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ của vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của Vũ Trung C đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 với hành vi dùng thủ đoạn gian dối (tự ý tẩu tán tài sản thế chấp) và bỏ trốn để không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tương ứng với điểm a, khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. So sánh giữa hai điều luật này, thấy điểm a khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nhẹ hơn (bỏ hình phạt tù chung thân). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì được áp dụng các quy định tại điểm a khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sựnăm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định có lợi cho người phạm tội để xử lý đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với các cán bộ tín dụng gồm:Bà Nguyễn Thị Kim H2 - nguyên là cán bộ tín dụng được giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ vay vốn của Công ty T10;bà Hồ Thị Bích T3 - nguyên Phó trưởng phòng tín dụng và ông Đỗ Đình V - Phó giám đốc Ngân hàng N3;ông Hà Hoài N - nguyên cán bộ tín dụng được giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ vay vốn của Công ty T10và Công ty Đ2; ông Nguyễn Đức T2 - nguyên Trưởng phòng tín dụng phê duyệt thẩm định và ông Trần Quốc B - Giám đốc Quỹ tín dụng N3, là các cán bộ có liên quan đến việc thẩm định hồ sơ, cấp tín dụng cho Công ty B2 vi phạm nhưng các tồn tại, hạn chế này đều ở mức độ vi phạm hành chính, vi phạm quy định nội bộ của từng tổ chức tín dụng; chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 32/12/2001 của Thống đốc N6và các quyết định, quy định nội bộ của Quỹ tín dụng Trung ương và NHNo&PTNT” và “Về mức độ thiệt hại cụ thể, qua hồ sơ, tài liệu hiện có là chưa đủ cơ sở xác định”. Tuy nhiên, việc xác định hậu quả “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” tại thời điểm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 không có văn bản hướng dẫn đối với tội danh này. Do đó, hành vi của nhóm cán bộ tín dụng có dấu hiệu phạm tội theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh và khung hình phạt khoản 1 Điều này theo quy định tại Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tương ứng vớiĐiều 27 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) là 10 năm. Áp dụng điểm c khoản 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi sai phạm ở Q Phú Thọvà Ngân hàng N3là phù hợp.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền về tài sản đảm bảo của cơ quan tổ chức tín dụng, hành vi đó còn gâydư luận xấu trên lĩnh vực hệ thống tín dụng cả nước nêncần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:Bị cáo có nhân thân sấu, đã bị Tòa án xét xử về tội “trộm cắp tài sản” và tội “Cướp tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, xong khi lượng hình xem xét cần xem xét các tính tiết giảm nhẹ cho bị cáo như quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình trả cho Ngân hàng N3số tiền là 1.760.000.000đ (trong đó: Tiền gốc 1.710.000.000đ, tiền lãi 50.000.000đ); bị cáo đã tác động gia đình đãtrả cho Ngân hàng H3 - chi nhánh P tổng số tiền 6.150.000.000 đồng(trong đó nợ gốc 6.050.000.000đồng, trả lãi 100.000.000đồng)để khắc phuc hậu quả; đại diện ngân hàng N3và đại diện Ngân hàng hợp tác xã đều đề xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.Do bị cáocó nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt ở mức thấp nhấtcũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:Qua xác minh, bị cáoVũ Trung Ckhông có tài sản gì ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra cũng như trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, bị cáoVũ Trung C là đại diện của Công ty TNHH T10 đã tác động đến gia đình bồi thường cho Ngân hàng N3tổng số tiền là 1.760.000.000đ (trong đó: Tiền gốc: 1.710.000.000đ, tiền lãi: 50.000.000đ);Ngân hàng N3không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên cần xác nhậntrong bản án.

Bị cáo đã tác động đến gia đình trả thay cho Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2 để trảtiền choNgân hàng N3Chi nhánh P(trước đây là Quỹ tín dụng Phú Thọ)tổng số tiền: 6.150.000.000đồng (trong đó tiền gốc: 6.050.000.000đ, tiền lãi: 100.000.000đ).

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng N3 yêu cầuCông ty TNHH T10trả lãi của 04 Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 07/5/2024 là:24.594.620,030đồng; Công ty cổ phần Đ2trả lãi của 01 Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 07/5/2024 là:2.334.819.760đồng.Nên cần buộc Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2phải trả cho Ngân hàng số tiền trên.

Đối với bị cáo Vũ Trung Cđã gán xe ôtô Hyundai biển kiểm soát 19L-4483 và xe ôtô Hyundai biển kiểm soát 19L-4731 cho ông Phạm Hồng S1 - sinh năm1965 có hộ khẩu ởsố D, đường L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An là Phó giám đốc Công ty TNHH T12với số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó, ông Phạm Hồng S1đã tự nguyện giao nộp xe ôtô Hyundai biển kiểm soát 19L-4483 cho phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Pđể bàn giao cho Quỹ tín dụng Phú Thọ. Ông Phạm Hồng S1không yêu cầu bị cáo Vũ Trung Cphải trả số tiền 300.000.000 đồng đã vay trước đó, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với các tài sản thế chấp củaCông ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo vàbà H1đều xác nhận trong thời gian mở Công ty TNHH T10chỉ có hai thành viên là bị cáo Cvà bà H1khi đó còn là vợ của bị cáo,bị cáo Clà Giám đốc trực tiếp quản lý điều hành, ký hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản của Công ty, bà H1không biết, không đóng góp tài sản gì và không liên quan đến Công ty,các thành viên khác chỉ là người làm công ăn lương do bị cáo Ctrả.

Tại phiên tòa, bị cáo Cvà ông Đặng Xuân C1đều xác nhận bị cáo Cnhờ C1(là em vợ bị cáo) đứng tên Công ty cổ phần Đ2, ông C1 không điều hành mà do bị cáo Cđiều hành, tài sản của Công tylà của bị cáoC.

Đối với ông Vũ Quang T1(là em trai của bị cáo C) đã nộp tiềnthaycho Công ty T10 dobị cáo C là đại diện và Công ty Đ2do bị cáo Cthành lập cho Ngân hàng Đ4 và Ngân hàng hợp tác xã, ông T1không yêu cầu bị cáo Ctrả lại số tiền trên nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra không thu giữ gì nên không đặt ra để giải quyết.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về tội danh, mức hình phạt và các vấnđề khác của vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Công ty TNHH T10và Công ty cổ phần Đ2 phải chịu án phí dânsự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Cácquyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sátviên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật. Người bào chữa cho bị cáothực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Về điều luật áp dụng:

Căn cứ khoản 4 Điều 175, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Vũ Trung Cphạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáoVũ Trung C05 (năm)năm tù. Thời hạn tù tính từ ngàybắttruy nã là ngày 03/4/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sungđối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Xác nhận gia đình bị cáo Vũ Trung Cđã trảcho Ngân hàng N3tổng số tiền là 1.760.000.000đ (trong đó tiền gốc 1.710.000.000đ, tiền lãi: 50.000.000đ).

Xác nhận gia đình bị cáoVũ Trung Cđã trả cho Ngân hàng H3 - chi nhánh Ptổng số tiền: 6.150.000.000 đồng (trong đó tiền gốc 6.050.000.000đ, tiền lãi100.000.000đ).

Buộc Công ty TNHH T10 trả choN1hànghợp tác xã Việt Nam - chi nhánh Psố tiền lãi24.594.620.030đồng (hai mươi bốn tỷ năm trăm chín mươi tư triệu sáu trăm hai mươi nghìn không trăm ba mươi đồng).

BuộcCông ty cổ phần Đ2trả choNgân hàng H3 - chi nhánh P số tiền lãi 2.334.819.760đồng(hai tỷ ba trăm ba mươi tư triệu tám trăm mười cính nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí: Căn cứ điểm a, ckhoản 1 Điều 32Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Trung Cphải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Công ty TNHH T10 phải chịu 132.594.000đồng (một trăm ba mươi hai triệu năm trăm chín mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự trong án hình sự.

Công ty cổ phần Đ2phải chịu 78.696.000đồng(bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự trong án hình sự.

Về quyền kháng cáo:Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND cấp cao tại Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- Phòng PC01 - CA tỉnh Phú Thọ;

- Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;

- Cục THADS tỉnh Phú Thọ;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ;

- Trại Tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;

- UBND nơi bị cáo cư trú

Phạm Văn Toàn

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, AV.

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƢỞNG V1

Căn cứ các Điều 41, 236, 239và243Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 08 ngày 29/12/2022của Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Pvề tội: “Giết người” quy định tại Điều 123 BLHS;Quyết định khởi tố bị can số 35 ngày 29/12/2022 của Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Pvới Lê Văn T6tội: “Giết người”quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự;

Bản kết luận điều tra số 41 ngày 26/4/2023 của Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh P,

Trên cơ sở kết quả điều tra, đã xác định được như sau:

Lê Văn T7- sinh năm 1985, ở thôn P, xã L, huyện T, thành phố Hà Nộivà chị Đái Thị Q1- sinh năm 1993, ở khu I, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọkết hôn với nhau năm 2013và cùng chung sống với nhau ở thôn P, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, anh T7và chị Q1không có con chung. Tháng 3/2021, chị Q1và T7thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên chị Q1bỏ về nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị M1- sinh năm 1962; anh trai Đái Văn C3- sinh năm 1988; chị dâu Hà Thị L1-sinh năm 1986 đềuở khu I, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọsinh sống. Thỉnh thoảng T7có đến nhà bà M1chơi và nghỉ tại đó.

Đầu tháng 9/2022, chị Q1hỏi mượn thẻ căn cước công dân của T7để làm thủ tục ly hôn. T7đồng ý và nói sẽ đem CCCD đến Pđể đưa cho chị Q1.

Chiều ngày 08/9/2022, T7mượn xe mô tô biển kiểm soát: 18S4 - 3992 của anh Vương Thế C4- sinh năm 1983, ở số G, ngõ H, đường K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, một mình điều khiển xe từ xã L, huyện T, thành phố Hà Nội đến xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọđể tìm gặp chị Q1nói chuyện, khuyên nhủ chị Q1quay lại với T7. Khi đi T7mang theo 01 con dao, dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 20cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại chỗ rộng nhất có kích thước 3cm, có 01 lưỡi sắc, mục đích để tự tử nếu chị Q1không đồng ý quay lại với T7. Khi đến huyện P, tỉnh Phú Thọ,T7thuê phòng và hẹn chị Q1đến nhà nghỉ S2thuộc khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọđể nói chuyện. Buổi tối cùng ngày, chị Q1cùng với 02 cháu nhỏ là con của anh ĐVăn Cảnh đến gặp T7để nói chuyện về việc ly hôn nhưng do hai cháu bị ốm nên chị Q1đưa hai cháu về và hẹn gặp T7nói chuyện sau. Sau đó, T7đến nhà anh Đái Văn N2 -sinh năm1982 thuộc khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, là anh trai ruột của chị Q1, chơi và ngủ lại.

Tối ngày 09/9/2022, T7tiếp tục thuê phòng tại nhà nghỉ S2và nhắn tin bảo chị Q1mang sổ hộ khẩu của gia đình T7đến trả cho T7mục đích để chị Q1không làm thủ tục ly hôn được nhưng chị Q1không đồng ý nên giữa T7và chị Q1xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. T7ở nhà nghỉ đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18S4 - 3992 đi đến nhà bà M1để lấy sổ hộ khẩu. Khi đi đến đoạn đường cách nhà bà M1khoảng 100m thì T7thấy nhà bà M1đang xem tivi nên T7đứng ngoài đường không vào nhà. Khoảng 00 giờ ngày 10/9/2022, T7thấy nhà bà M1đã đi ngủ,T7gọi điện thoại cho chị Q1để nói chuyện nhưng chị Q1không nghe máy nênTùng tiếp tục gọi nhiều lần cho anh ĐVăn C3và chị Hà Thị L1nhưng cũng không ai nghe máy. Lúc này, T7bực tức muốn tự sát trong nhà bà M1nên cầm theo con dao gọt hoa quả T7mang theo từ trước trèo tường vào nhà bà M1. Do mọi người đã tắt đèn, đóng cửa đi ngủ nên T7không vào được bên trong nhà mà ngồi ở hè rồi ngủ thiếp đi. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, T7nghe tiếng người nói ở ngoài cổng gọi anh C3đi làm thì T7tỉnh dậy và trốn ở sau nhà. T7nghe thấy anh C3nói với anh Đái Văn T8 - sinh năm 1982 trú tại khu I, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ(đến rủ anh C3đi làm):“Đ.mẹ cái thằng dở hơi hôm qua nó gọi cho cái Q1không được xong nó gọi cho vợ chồng em một đốngnên để chế độ im lặng”. T8nghe thấy vậy, biết anh C3nói mình nên rất bực tức và nảy sinh ý định giết chết chị Q1rồi mới tự tử. Sau khi anh C3đi làm, T8đi vào sân rồi đi xuống phía bếp thấy cửa bếp không đóng nên T8mở cửa rồi đi vào phòng ngủ của chị Q1. Trước đó khi về nhà bà M1chơi thì vợ chồng T8đã nhiều lần nằm ngủ giường kê tại khoảng trống giữa khu vực phòng khách đi xuống khu vực bếp nên T8xác định chắc chắn chị Q1đang nằm ngủ trên giường. Khi đến gần giường của chị Q1 thìT8lấy dao gọt hoa quả giấu trong người ra cầm ở tay phải. Thấy chị Q1đang nằm ngủ một mình trên giường ở tư thế nằm ngửa, đắp chăn đến ngực thì T8trèo lên người, ngồi xổm lên trước bụng chị Q1. Đồng thời, T8dùng tay trái giữ cằm, tay phải cầm dao nhọn kề lưỡi dao vào cổ chị Q1mục đích để nói chuyện, thuyết phục chị Q1quay lại với mình. Nếu chị Q1không đồng ý quay lại thì T8mới giết chị Q1 sau đó tự sát. Khi thấy T8bóp cằm, kề dao vào cổ thì chị Q1vùng vẫy chống cự dùng hai tay đẩy T8ra và kêu lên “mẹ ơi, cứu con”. Khi đó, T8xác định không thuyết phục chị Q1nữa nên T8cầm dao gọt hoa quả ở tay phải giơ lên cao, hướng mũi dao nhọn xuống dưới và đâm liên tiếp 4 nhát nhằm vào vùng bụng của chị Q1. Chị Q1dùng hai tay đỡ thì bị T8đâm dao trúng vào mặt ngoài cẳng tay trái và cẳng tay phải làm dao bị gãy làm 03 đoạn. Bà Nguyễn Thị M1thấy vậy chạy đến ôm, kéo chân T8và chị Q1đẩy được T8ra thì thoát được nên bỏ chạy sang phòng ngủ của chị Hà Thị L1ở đối diện và khóa trái cửa lại. T8không dồn theo để đâm chị Q1nữa mà nghĩ rằng khi bị đâm như vậy T8để mặc cho chị Q1chết hoặc sống T8không quan tâm. T8muốn tự sát nên đi xuống khu vực bếp lấy 01 con dao dài khoảng 30cm mang lên phòng khách tự dùng dao cứa nhiều lần vào cổ mình để tự sát nhưng dao cùn, không đứt sâu nên T8tiếp tục đi xuống bếp lấy 01 con dao phay dài khoảng 50 cm để tự tử nhưng thấy lưỡi con dao này cùn nên T8lấy 01 chiếc kéo dài khoảng 20cm đi lên phòng khách và dùng kéo đâm 03 lần vào cổ T8. Thấy mọi người can ngăn thì T8đi ra khu vực sân trước cửa nhà rồi lấy 01 chiếc kéo khác và tiếp tục tự đâm 02 phát vào cổ mình. Một lúc sau, Công an xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọđến khống chế T8, phối hợp cùng gia đình đưa chị Q1và T8đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Pcấp cứu, điều trị. Đến ngày 12/9/2022 T8ra viện, ngày14/9/2022 chị Q1ra viện.

Cơ quan CSĐT- Công an huyện Pđã tổ chức khám nghiệm hiện trường, tạm giữ 02 con dao; 02 chiếc kéo, 01 phần con dao, 02 mảnh kim loại; 01 xe mô tô, BKS: 18S4-3992; con dao và kéo thu tại hiện trường có bám dính chất màu nâu đỏ.

Ngày 22/9/2022,Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tíchcủa chị Đái Thị Q1. Tại bản kết luận giám định thương tích số: 203/TgT/2022 ngày 03/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh P, kết luận đối với thương tích của chị Q1:

+ Vết sẹo vùng cổ: 02%;

+ Vết số 1 cẳng tay phải: 01%;

+ Vết số 2 cẳng tay phải (sẹo phẫu thuật): 01%;

+ Tổn thương nhánh cảm giác thần kinh trụ đoạn cẳng cổ tay bên phải: 11%;

+ Vết số 1 cẳng tay trái: 01%;

+ Vết số 2 cẳng tay trái: 01%;

+ Vết số 3 cẳng tay trái: 01%;

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 17%. Làm tròn: 17%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đái Thị Q1 là 17% (Mười bảyphần trăm).

Ngày 06/10/2022,Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Pđãtrưng cầu giám định dấu vết máu nâu đỏ trên con dao, chiếc kéocó bám dính máu người không? Là máu của ai?

Tại bản kết luận giám định số:6754 ngày 31/10/2022 của V2Bộ C7kết luận:

“1. Trên các con dao dài khoảng 44cm; 28,6cm; trên các chiếc kéo dài khoảng 19cm và 20cm gửi giám định có dính máu của Lê Văn T7;

2. Trên con dao dài khoảng 17cm và trên 2 mảnh kim loại màu trắng bạc gửi giám định có bám dính máu của Đái Thị Q1”.

Tại Cơ quan điều tra, T7khai nhận: do muốn thuyết phục chị Q1quay lại với mình, nhưng khi nghe được câu nói của anh C3,T7cho rằng chị Q2có lời nói không tốt về T7với gia đình, nên T7đã nảy sinh ý định giết chị Q1rồi tự sát. T7đã sử dụng 01 con daodài khoảng 20cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại chỗ rộng nhất 03cm, ngồi lên bụng chị Q1ghì vào cổ chị Q1gây rách da, chảy máu và đâm nhiều nhát theo hướng từ trên xuống dưới nhằm vào bụng chị Q1mục đích để giết chị Q1, nhưng chị Q1đã dùng tay đẩy T7ra nên bị nhiều vết thương ở tay, gây thương tích cho chị Q117%. Sau đó T7sử dụng 02 con dao và 02 chiếc kéo tự sát nhưng không chết. Do đó, T7phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị can: quá trình điều tra bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường cho chị Q1số tiền 10.000.000đ, (tổng số yêu cầu bồi thường:20.000.000đ); nên bị can được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng tránh nhiệm hình sự nào.

Vật chứng vụ án:Cơ quan điều tra thu giữ:

+ 01 dao phay có chiều dài 44 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5 cm, trên bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ đã khô. Lưỡi dao bằng kim loại màu đen có một lưỡi sắc dài 31,5 cm, trên bề mặt bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 dao dạng dao thái dài 26,8 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,3 cm, trên bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ đã khô. Lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5 cm, trên bề mặt bám dính chất dịch màu nâu đỏ.

+ 01 chiếc kéo dài 19 cm, chuôi kéo bằng nhựa màu xanh có bám dính chất màu đỏ đã khô, hai lưỡi kéo bằng kim loại, có đầu nhọn, một lưỡi kéo bị gãy phần đầu nhọn, trên hai lưỡi kéo có bám dính chất màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 chiếc kéo dài 20cm, phần tay cầm được bọc bằng nhựa màu xanh có bám dính chất màu nâu đỏ đã khô, hai lưỡi kéo đều có một lưỡi sắc và một đầu nhọn, phần lưỡi kèo bằng kim loại màu trắng bạc, trên bề mặt lưỡi kéo có bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 dao dài khoảng 17cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm, chỗ rộng nhất 02cm, một phần lưỡi dao màu trắng bạc dài 06 cm, có một lưỡi sắc, đoạn lưỡi dao bị gãy rộng 2,5 cm, đã qua sử dụng.

+ 01 mảnh kim loại màu trắng bạc dạng lưỡi dao bị gãy kích thước 2,5cm x 2,5cm có một lưỡi sắc, hai đầu mảnh kim loại có dấu vết gãy còn mới. Một đầu gãy có kích thước rộng 2.5cm một đầu gãy có kích thước rộng 02cm, một mặt có bám dính chất màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 mảnh kim loại màu trắng bạc dạng đầu lưỡi dao bị gãy có kích thước 3,5cm x 02cm, một đầu nhọn, một đầu có vết gãy còn mới, có một lưỡi sắc, một mặt bám dính chất màu nâu đỏ đã khô.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu đen xám, số sê ri 1: 357730108521213, số seri 2: 357730109521212 bên trong lắp sim số 0369.840.277, đã qua sử dụng (thu giữ của T7);

- 01 thẻ căn cước công dân số 001085052167 mang tên Lê Văn T7, sinh ngày: 22/12/1985 nơi thường trú: Phương Quế, L, T, Hà Nộido cục C8về TTXH cấp ngày 05/6/2022.

- 01 xe môtô biển số 18S4 - 3992 nhãn hiệu TEAM, loại xe nữ, màu sơn nâu, số khung: T-002103, số máy: FMG-20002358, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ, số EMEI 1: 862762041753015, số IMEI 2: 862762041753007 bên trong lắp sim số 0325.739.308 và 0965.982.436, đã qua sử dụng (thu giữ của chị Q1);

- 01 chiếc chăn nhung màu đỏ xanh vàng, trên chăn được in nhiều hình hoa, lá, ngôi sao. Tại mép chăn có nhiều vết rách thủng vải nham nhở, chăn đã qua sử dụng (thu giữ của bà M1);

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0069921 do Phòng C6Công an tỉnh Pcấp ngày 15/5/2003 đối với xe mô tô BKS: 18S4-3992, chủ xe: Phạm Văn T9.

Về bồi thường dân sự:

Bị can đãbồi thường cho chị Q1số tiền 10.000.000đ, chị Q1yêu cầu bồi thường thêm số tiền 10.000.000đ.

Về tài sản: qua xác minh, bị can sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản gì ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.

Căn cứ những tình tiết vàchứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Khoảng 05 giờ ngày 10/9/2022, tại gia đình bà Nguyễn Thị M1- sinh năm 1962, ở khu I, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, do mâu thuẫn cá nhân, Lê Văn T7-sinh năm 1985, có hộ khẩu thường trú ở thôn P, xã L, huyện T, thành phố Hà Nộiđã sử dụng 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 20cm, chuôi dao bằng gỗ, dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại có một lưỡi sắcchỗ rộng nhất 03cm ghì vào cổ chị Q1gây rách da chảy máu; và đâm nhiều nhát vào vùng bụng nhằm giết chị Q1, nhưng chị Q1dùng tay chống đỡ nên bị thương nhiều vết ở tay, gây thương tích cho chị Q1với tỷ lệ 17%. Sau đó, T7dùng 02 con dao và 02 chiếc kéo để tự sát nhưng không chết. Do đó, Lê Văn T7phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Hành vi của Lê Văn T7là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của chị Q1, gây mất trật tự trị an trên địa bàn cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Họ và tên: Lê Văn T7- sinh năm 1985; Giới tính: nam;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn P, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Dân tộc: Kinh;

Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Bố đẻ: Lê Văn Đ1- đã chết;

Mẹ đẻ: Lương Thị K- 1953;

Hiệnở xóm F, thôn P, xã L, T, Hà Nội.

Vợ: Đái Thị Q1- sinh năm 1993, đã ly hôn theo Bản án số: 03/2023/BA-HNGĐ ngày 31/01/2023 của Toà án ND huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội;

Con: không.

Anh chị em ruột: gia đình có 05 người, bị can là thứ năm;

Tiền án- tiền sự: không.

Bị can bị bắttạm giam từ ngày 29/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh P.

Hành vi nêu trên của Lê Văn T7 đã phạm vào tội “Giết người”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

……

n, Có tính chất côn đồ;”

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử đối với Lê Văn T7 về tội “Giết người”quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

Hồ sơ vụ án gồm 1 tập, bằng…….tờ, đánh số bút lục từ 01 đến….

Bản kê vật chứng;

Danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa.

Cỡ chữ