- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối với bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Nhàn và ông Võ Lâm Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Thy - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần, Nhà tạm giữ Công an huyện C:
- Ông Lê Phước S, là công chức Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới;
- Ông Lê Trần L, là công chức Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành P, sinh năm 2001, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T và bà Phạm Thị H; có vợ là Võ Thị Thùy T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2021; tiền án: chưa; tiền sự: Ngày 08/01/2024, bị Ủ bản nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa nộp phạt; bị tạm giữ từ ngày 02/4/2024 đến ngày 11/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Phạm Duy T2, ông Nguyễn Đăng K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/4/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã K kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C, bắt quả tang Nguyễn Thành P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực thuộc tổ G, ấp H, xã K, huyện C. Thu giữ 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng, P khai là ma túy, mua của người lạ giá 300.000 đồng, tại khóm L, thị trấn C, mục đích để sử dụng.
- Vật chứng thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy.
- Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2019 gam.
Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố Nguyễn Thành P để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSCM ngày 23 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo nên đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Nguyễn Thành P khai nhận, khoảng 08 giờ ngày 02/4/2024, bị cáo thuê người tên H1 (không rõ họ, địa chỉ) chở từ huyện P, tỉnh An Giang đến xã K, huyện C. Bị cáo gặp người tên Huy L1 (không rõ họ, địa chỉ) giới thiệu mua ma túy của người thanh niên lạ 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng với giá 300.000 đồng tại khu vực gần Siêu thị C, thuộc thị trấn C. Sau đó, bị cáo kêu người tên H1 chở đến khu vực xã K, huyện C. Bị cáo trả tiền thuê xe 80.000 đồng rồi đến căn nhà không người ở để sử dụng ma túy. Bị cáo ngồi trên nền gạch, chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, chứa chất ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra như nội dung Cáo trạng đã nêu trên; phù hợp với lời khai của người làm chứng về diễn biến sự việc, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cùng vật chứng được thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, chất tinh thể màu trắng bên trong 01 bọc nilon thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2019 gam.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2019 gam.
Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, ma tuý là chất gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo là người thành niên, đang ở tuổi lao động nhưng lại lao vào con đường nghiện ngập. Để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Bên cạnh đó, bị cáo đang có tiền sự do bị Ủ bản nhân dân thị trấn P, huyện P ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng vào ngày 08/01/2024. Sự việc này thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng
ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm của người liên quan, bị cáo khai có thuê người tên H1 chở bị cáo đi mua ma túy; lượng ma túy bị thu giữ được bị cáo mua của người thanh niên lạ do người tên Huy L1 giới thiệu. Do chưa xác định được họ tên, địa chỉ của những người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là vật cấm lưu hành; 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa là vật chứa ma túy, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy c ng 01 bọc nilon bị thu giữ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Thành P 01 (một) năm 03 (ba) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, ngày 02/4/2024 (ngày hai, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 456/KL-KTHS ngày 09 tháng 4 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H2, Đặng Hữu T3. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,1763g (không phẩy một bảy sáu ba gam), theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thành P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an huyện C; - CQTHAHS Công an huyện C; - CQĐT Công an huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện C; - Bộ phận THAHS Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |