vanban.org

Bản án 45/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 25/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-PT
Ngày: 25 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vủ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn K và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo bị cáo Bùi Văn K, Nguyễn Thanh T, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P, Lê Quang T1 và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị: Nguyễn Thanh T, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1977 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt H và bà Nguyễn Thị Ánh H1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 14 tháng 12 năm 2010 bị Công an tỉnh B xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, ngày 10 tháng 01 năm 2013 bị Toà án nhân dân huyện Hoà Bình xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, ngày 10 tháng 3 năm 2017 bị Công an huyện H xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. (Có mặt)

- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H2; có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, vào ngày 27 tháng 11 năm 2021, bị Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu xử phạt phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn thua bằng tiền”. (Có mặt)

- Bị cáo có kháng cáo: Giảng Tùng Sĩ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: nuôi tôm; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giảng Văn N và bà Ngô Thị K1; có vợ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 24 tháng 02 năm 2017 bị Công an H phạt hành chính về hành vi đánh bạc. (Có mặt)

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn P, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1989 tại Bạc Liêu.

Nơi thường trú: ấp T, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú và nơi ở: ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: nuôi tôm; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H3 và bà Nguyễn Thị H4; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Quang T1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1986 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang S1 và bà Trần Ngọc T2; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ, ngày 18 tháng 01 năm 2022, Công an huyện H kết hợp với Công an xã V và Đồn Biên phòng C1, tiến hành kiểm tra, quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền với nhau tại khu vực nhà sau của Giảng T, trú ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Quá trình điều tra đã chứng minh được:

Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P và Lê Quang T1 trực tiếp ngồi tụ đánh bài thắng, thua bằng tiền, số tiền dùng đánh bạc là 11.100.000đ (Trong đó: số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 4.950.000đ, tiền xâu của thu của bị cáo S 200.000đ, bị cáo Lê Quang T1 3.400.000đ, bị cáo P 2.550.000đ).

Đối với bị cáo K, Tào Thanh B, Nguyễn Bé V, Giảng M và Lâm Bửu T3 tham gia đánh bạc nhưng không trực tiếp ngồi tụ mà ngồi sau lưng của 04 bị cáo, sử dụng kết quả bài của người ngồi tụ để cá cược với nhau; số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.130.000đ (trong đó: bị cáo K 150.000đ, Tào Thanh B 940.000đ, Nguyễn Bé V 340.000đ, Giảng M 100.000đ, Lâm Bửu T3 600.000đ).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P và Lê Quang T1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; các điều 17, 50, 58 và 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) tháng tù.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; các điều 17, 50, 58 và 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P, Lê Quang T1 với mỗi bị cáo mức án 03 (ba) tháng tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 11, 13, 14 tháng 3 năm 2024, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo

- Ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu có Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-HS với nội dung kháng nghị như sau: không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Giữ nguyên Kháng nghị số 02/QĐ-VKS-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Đối với các bị cáo Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P và Lê Quang T1: mức hình phạt đã tuyên là mức thấp nhất của hình phạt tù có thời hạn nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, việc cho bị cáo được hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin hưởng án treo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, theo hướng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

- Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo và không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các bị cáo thừa nhận có hành vi đánh bạc bằng hình thức bài binh xập xám được thắng thua bằng tiền, mà không được Cơ quan nhà nước cho phép, trong đó chứng minh số tiền các bị cáo Nguyễn Thanh T, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P và Lê Quang T1 dùng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm chung với số tiền 11.100.000đ và số tiền đủ yếu tố cấu thành tội phạm; bị cáo Bùi Văn K với số tiền đánh bạc chịu trách nhiệm chung là 2.130.000đ, tuy số tiền không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 27 tháng 11 năm 2021. Cho nên, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng nghị và kháng cáo đối với bị cáo Nguyễn Thanh T: bị cáo đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc” mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn không thuộc trường hợp phạm tội lần đầu. Do đó, việc cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, làm căn cứ xác định bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 để áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đúng quy định của pháp luật. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và tăng hình phạt đối với bị cáo, đồng thời không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T.

[3] Xét kháng cáo đối với các bị cáo Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P và Lê Quang T1:

Các bị cáo khác bị cấp sơ thẩm xử phạt 03 tháng, đây là mức tối thiểu của tù có thời hạn nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi nhậu, các bị cáo tập trung đánh bạc trái phép, gây ra mất trật tự tình hình trị an địa phương, việc cho các bị cáo được hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ nguyên hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo.

[4] Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.

[5] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 136; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.

- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo: Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P, Lê Quang T1.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T, Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P, Lê Quang T1.

3. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

4. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Bùi Văn K, Giảng Tùng S, Nguyễn Văn P, Lê Quang T1 phạm tội “Đánh bạc”.

5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

6. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

7. Xử phạt bị cáo Giảng Tùng S 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

9. Xử phạt bị cáo Lê Quang T1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

10. Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T nộp 200.000đ.

- Buộc bị cáo Bùi Văn K nộp 200.000đ.

- Buộc bị cáo Giảng Tùng S nộp 200.000đ.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn P nộp 200.000đ.

- Buộc bị cáo Lê Quang T1 nộp 200.000đ.

11. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ