vanban.org

Bản án 45/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Phú H- Hồ Sỹ Ph"
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28 -6-2024
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BT

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

- Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan

+ Ông Phạm Hồng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện TP, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QĐ-HPT ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện TP, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phú H, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn 1, xã PP, huyện TP, tỉnh BT.

2/ Bị đơn: Ông Hồ Sỹ Ph, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn 1, xã PP, huyện TP, tỉnh BT.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Bà Trần Thị Phú H và ông Hồ Sỹ Ph sống chung với nhau từ năm 2018, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn LH, huyện TP (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106, cấp ngày 14/6/2021). Bà với ông Phương kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi cưới nhau, vợ chồng bà về sinh sống tại thôn 1, xã PP, huyện TP, tỉnh BT. Thời gian đầu, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng hạnh phúc. Khoảng 01 năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau về những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống. Ông Phương thường xuyên ăn nhậu, về nhà lại tìm cớ gây sự với bà mỗi lần bà khuyên ngăn thì ông Phương lại tỏ ra khó chịu, thậm chí còn dùng vũ lực đối với bà. Bà và ông Phương hiện đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay, ông Phương quay về sinh sống nhà mẹ ruột tại khu phố 01, thị trấn LH nhưng ông Phương vẫn thường xuyên gọi điện thoại để chửi bới bà. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn, khắc phục nhưng ông Phương không có thiện chí nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Trong khoảng thời gian này, không ai quan tâm đến ai, bỏ mặc nhau muốn sống sao thì sống. Nay bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông Phương.

- Về con chung của vợ chồng: Bà và ông Phương có 01 con chung là Hồ Ngọc Như Quỳnh, sinh ngày 23/12/2020, giới tính: Nữ. Hiện cháu Quỳnh đang sống cùng với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên. Bà không yêu cầu ông Phương cấp dưỡng nuôi con, bà thay đổi so với yêu cầu trước đây về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Lý do bà thay đổi, bà cho rằng có yêu cầu thì ông Phương cũng không cấp dưỡng.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

Bị đơn ông Hồ Sỹ Ph: Do ông Hồ Sỹ Ph thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú nên Tòa không ghi được lời khai của ông Hồ Sỹ Ph.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP phát biểu về việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Xác định mối quan hệ pháp luật cần giải quyết, thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Phú H.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị Phú H được ly hôn với ông Hồ Sỹ Ph.

Về con chung: có 01 (một) người con; Hồ Ngọc Như Quỳnh, sinh ngày 23/12/2020, giới tính: Nữ

Giao cho bà Trần Thị Phú H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Hồ Ngọc Như Quỳnh, sinh ngày 23/12/2020, giới tính: Nữ đến khi thành niên.

Ông Hồ Sỹ Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Bà Trần Thị Phú H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Sỹ Ph có nơi cư trú tại xã PP, huyện TP, tỉnh BT. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Phú H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Do ông Hồ Sỹ Ph thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú và không rõ thời điểm trở về nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt ông Hồ Sỹ Ph theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của bà Trần Thị Phú H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa bà Trần Thị Phú H và ông Hồ Sỹ Ph được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn LH, huyện TP, tỉnh BT vào năm 2021. Vì vậy, áp dụng luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị Phú H và ông Hồ Sỹ Ph thực sự đã mâu thuẫn trong thời gian dài. Cuộc sống chung giữa bà với ông Phương không có hạnh phúc, nguyên nhân do ông Phương thường xuyên ăn nhậu, về nhà lại tìm cớ gây sự với bà mỗi lần bà khuyên ngăn thì ông Phương lại tỏ ra khó chịu, thậm chí còn dùng vũ lực đối với bà, bà và ông Phương đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay nay không ai quan tâm đến ai, hôn nhân không hàn gắng lại được. Bà xin được ly hôn với ông Hồ Sỹ Ph.

Theo lời trình bày của ông Huỳnh Đức Minh – Phó thôn 01, xã PP tại biên bản xác minh ngày 10 tháng 5 năm 2024 nơi ông Hồ Sỹ Ph sinh sống phù hợp với tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Trần Thị Phú H, ông Hồ Sỹ Ph không quan tâm đến nhau nữa, tình cảm không còn. Điều đó làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Phú H đối với ông Hồ Sỹ Ph.

Về con chung: Bà Hà và ông Phương có 01 (một) người con; tên Hồ Ngọc Như Quỳnh, sinh ngày 23/12/2020, giới tính: Nữ. Hiện nay con chung đang sống chung với bà Hà, bà Hà xin nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi thành niên. Xét thấy, yêu cầu của bà Hà là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ con hiện nay đang sống cùng bà Hà, bà Hà là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên giao cho cho bà Hà tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con bà Hà không có yêu cầu ông Phương phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị Phú H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 19, Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Phú H được ly hôn với ông Hồ Sỹ Ph.

- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Phú H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Hồ Ngọc Như Quỳnh, sinh ngày 23/12/2020, giới tính: Nữ đến khi trưởng thành.

Ông Hồ Sỹ Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi có thể thay đổi. Việc thay đổi do các bên tự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về án phí: Bà Trần Thị Phú H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Trần Thị Phú H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006621 do Chi cục thi hành án dân sự huyện TP cấp ngày 01 tháng 3 năm 2024, bà Trần Thị Phú H đã nộp đủ án phí.

[3] Quyền kháng cáo của bà Trần Thị Phú H là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28-6-2024), ông Hồ Sỹ Ph vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ