- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly - Mạnh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 BLTTDS; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02-3-2023 Về việc: “Xin ly hôn." . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và bà Phạm Thị Tuyết Mai
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Trọng Khánh– Cán bộ Toà
án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
-Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2022/TLST-HNGĐ, ngày 27-10-2022, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con chung ”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 129/2023/QĐST-DS, ngày 09 tháng 02 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 2000, có mặt
Địa chỉ:Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Bị đơn
Trần Quốc M, sinh năm 1994, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại các bản khai và tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh L trình bày: Giữa chị với anh Trần Quốc M tự tìm hiểu trong thời gian 02 năm, chung sống với nhau từ năm 2018 đến năm 2019 đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 28-03-2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được 02 năm nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh M thường xuyên nhậu nhẹt với bạn bè rồi về đánh đập chị. Nhiều lần anh đánh chị rồi lại xin lỗi nên chị đã tha thứ nhiều lần để vợ chồng cùng chung sống nuôi con. Nhưng đến ngày 24-4-2022 anh M lại tiếp tục uống rượu về đóng cửa đánh đập chị. Đến ngày hôm sau chị đã bỏ về nhà cha mẹ chị ở từ đó đến nay. Vì vậy nay chị L thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn anh M.
Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên là Trần Quốc T, sinh ngày 06-11-2018, hiện con đang ở cùng chị. Nay ly hôn chị L xin nuôi con, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra chị L không khai và không yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn Trần Quốc M vắng mặt tại phiên tòa. Mặc dù Tòa án đã tiến hành thực hiện việc tống đạt và niêm yết nhiều lần theo quy định pháp luật nhưng bị đơn anh M vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị L ly hôn với anh M.Về quan hệ nuôi con chung: đề nghị giao con chung của chị L và anh M tên là Trần Quốc T, sinh ngày 06-11-2018, cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị Tòa không xét. Về quan hệ tài sản chung: Chị L khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên đề nghị Tòa không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ánh L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Trần Quốc M cư trú tại Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Trần Quốc M vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
.1 Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh L thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Trần Quốc M tự tìm hiểu chung sống từ năm 2018 và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28-03-2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị L và anh M là hợp pháp. Theo chị L khai trong thời gian sống chung vợ chồng chị thường xuyên mâu thuẫn do anh M thường xuyên uống rượu về đánh đập chị nhiều lần, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 4 năm 2022 cho tới nay nên tình cảm vợ chồng không còn nên chị L xin ly hôn. Trong khi Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục về việc xin ly hôn của chị L tại địa phương nơi anh M cư trú nhưng anh M vẫn không đến Tòa, cũng không có bản trình bày ý kiến. Điều này chứng tỏ anh M không mong muốn vun đắp cuộc hôn nhân này. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị L và biên bản xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị L được ly hôn anh M.
.2 Về quan hệ nuôi con chung: Chị L và anh M có 01 con chung tên là Trần Quốc T, sinh ngày 06-11-2018. Nay ly hôn chị L xin nuôi con, mà hiện nay con đang ở cùng chị L nên giao hai con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng chị L không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xét .
.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên Tòa không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Khoàn 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Ly phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp được khấu trừ vào án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 BLTTDS; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ánh L ly hôn anh Trần Quốc M.
[2] Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung của Chị L và anh M tên là Trần Quốc T, sinh ngày 06-11-2018 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, con hiện đang ở với chị L. Về cấp dưỡng chị L không yêu cầu nên Tòa không xét. Bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như tiền cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về quan hệ tài sản chung: Tòa không xét.
[4] Về án phí DSST: Buộc chị Nguyễn Thị Ánh L phải chịu 300.000đ về án phí ly hôn sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0006459, ngày 27-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T được khấu trừ vào tiền án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại Tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 02-3-2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành. Nếu bên phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ đã tuyên thì bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng thời gian chậm thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : -Các bên đương sự -VKSND huyện T -Chi cục THADS huyện T -Phòng GĐKT TAND tỉnh Bình Định . -UBND xã P Số 48, ngày 28-3-2019) -Lưu hồ sơ . | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bích Thủy |