- Tranh chấp gì? án hình sự — "HH - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN E TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HSST Ngày: 12/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Hữu Linh
2. Bà: Phạm Thị Thùy Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Toà án nhân dân Huyện E.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện E tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/HSST, ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hứa Văn H; sinh năm 1990, tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã B, Huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Hứa Văn Q (đã chết); họ và tên mẹ: Triệu Thị L - sinh năm: 1964; có vợ Nguyễn Thị H - sinh năm 1991. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/3/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông K - Sinh năm 1960; Địa chỉ: Làng V, xã A, Huyện C, tỉnh Gia Lai (đã chết).
Những ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại:
- Bà G - Sinh năm 1965; Trú tại: Làng V, xã A, Huyện C, tỉnh Gia Lai - vắng mặt;
- Ông T - Sinh năm 1983; Trú tại: Làng K, thị trấn C, Huyện C, tỉnh Gia Lai - có mặt;
Bà G ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng.
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Văn M - sinh năm 1966; Trú tại: Thôn N, xã Ch, Huyện Kh, tỉnh Hưng Yên - vắng mặt.
Ông Vũ Văn M ủy quyền cho ông Trần Xuân Tr - Sinh năm 1982; Trú tại: Thôn 3, xã N, Huyện R, tỉnh Đăk Nông tham gia tố tụng - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 05/01/2023, Hứa Văn H, có Giấy phép lái xe hạng C theo quy định,điều khiển xe ô tô biển số: 89C - 248.63 đi theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, khi đi đến km 1670 + 300 đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận thôn 1, xã E, huyện E. Lúc này khoảng 13 giờ cùng ngày, mặc dù đây là đoạn đường cong, có biển báo hiệu đoạn đường cong và biển báo đoạn đường giao nhau với đường không ưu tiên, nhưng H vẫn cho xe ô tô dừng bên lề đường để đi vệ sinh. Cùng thời điểm này, ông K đang điều khiển xe mô tô biển số: 81S4 - 5260 lưu thông phía sau cùng chiều với xe ô tô của H, vì đây là đoạn đường cong, cấm dừng xe và bị hạn chế tầm nhìn nên xe mô tô của ông K đã tông vào phần dè phía sau bên trái xe ô tô của H đang dừng. Hậu quả ông K bị thương phải đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu, đến ngày 10/01/2023 ông K tử vong.
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/01/2023 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk, biên bản dựng lại hiện trường ngày 17/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, biên bản xác định điểm va chạm ngày 27/3/2023 thể hiện: Đoạn đường xảy ra vụ việc là đoạn đường cong về phía bên phải theo hướng đi từ tỉnh Đắk Lắk về tỉnh Gia Lai, mặt đường rộng 11mét, giữa đường có vạch sơn đứt quãng chia lòng đường thành 02 phần bằng nhau, hai bên lề đường có vạch sơn liền song song cách lề đường 02 mét. Lấy cột mốc H3/1670 làm mốc cố định, lấy mép lề đường bên phải theo hướng đi từ tỉnh Đắk Lắk về tỉnh Gia Lai làm mép đường chuẩn. Xác định được điểm va chạm giữa xe mô tô biển số 81S4 - 5260 và xe ô tô biển số biển số 89C -248.63 là tại vị trí thanh kim loại nối dè chắn bùn phía sau bên trái với miếng thảm chắn bùn của xe ô tô, cách mép đường chuẩn là 1,9 mét.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số: 114/GĐHS, ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm Pháp y, thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của K là ngưng hô hấp, tuần hoàn do sốc chấn thương không phục hồi do chấn thương sọ não/ Chấn thương cột sống cổ/ Nhiều chấn thương do tai nạn giao thông.
Hành vi của Hứa Văn H đã vi phạm vào điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều 18 Luật giao thông đường bộ dẫn đến phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 18 Luật giao thông đường bộ quy định:
3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:
b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;
4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí
sau đây:
b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện E đã tạm giữ: 01 xe ô tô biển số 89C - 248.63 kèm theo 01 giấy đăng ký bản phô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã trả lại cho anh Trần Xuân Tr, là đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu quản lý và sử dụng; 01 xe mô tô biển số 81S4 - 5260 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện E đã trả lại cho anh T, là đại diện cho gia đình bị hại quản lý và sử dụng; 01 giấy phép lái xe của bị can H, kèm theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị can và đại diện bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ về dân sự. Hiện tại, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện E, đã truy tố bị cáo Hứa Văn H về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện E giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 30/5/2023, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hứa Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án Tòa tuyên.
Các biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, 47 BLHS Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện E đã giao trả 01 xe ô tô biển số 89C - 248.63 kèm theo 01 giấy đăng ký bản phô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô, cho anh Trần Xuân Tr (đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Văn M), là chủ sở hữu quản lý và sử dụng; giao trả cho anh T 01 xe mô tô biển số 81S4 - 5260 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký là đại diện cho gia đình bị hại quản lý và sử dụng; 01 giấy phép lái xe của bị cáo Hứa Văn H, kèm theo hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận bị cáo và đại diện bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện E, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Vào khoảng 13 giờ ngày 05/01/2023, Hứa Văn H điều khiển xe ô tô biển số 89 C - 248.63, lưu thông trên đường Hồ Chí Minh theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai. Khi đi đến km 1670 + 300, đường Hồ Chí Minh, thuộc thôn 1, xã E, huyện E thì cho xe dừng bên lề không đúng nơi quy định. Cùng thời điểm, ông K điều khiển xe mô tô biển số 81 S4 - 5260 lưu thông cùng chiều với H đã tông vào phần dè phái sau cung chiều với xe của bị cáo đang dừng. Hậu quả: ông K bị thương phải đi bệnh viện cấp cứu, đến ngày 10/01/2023 thì bị tử vong.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
Nhận thấy, khi thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i , bị cáo là người có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe bị cáo đang điều khiển. Bị cáo đã được học luật giao thông, bị cáo phải biết được qua đoạn cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất thì không được dừng đỗ nhưng do cẩu thả và quá tự tin, không tuân thủ đúng pháp luật về giao thông đường bộ, bị cáo đã dừng xe không đúng quy định nên đã gây tai nạn. Hậu quả, ông K chết, xe mô tô 81 S4 - 5260 hư hỏng. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Huyện E đối với bị cáo Hứa Văn H về tội “Vi phạm qui định về tham giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Tại điều luật này quy định như sau:
Tại Điều 260 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;”....
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo dừng đỗ xe không đúng nơi quy định dẫn đến tai nạn, hậu quả làm chết một người. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, để trừng trị người phạm tội, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ý thức chấp hành pháp luật, mặt khác còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại. Khi lưu thông trên đường, lẽ ra người bị hại phải quan sát phía trước để điều khiển xe tránh chướng ngại vật hoặc cho xe dừng kip thời, nhưng do bất cẩn nên người bị hại không quan sát kỹ dẫn đến va chạm với xe ô tô do bị cáo điều khiển gây ra tai nạn. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là cao với hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện nên cần xem xét cân nhắc giảm cho bị cáo một phần hình phạt so với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng bằng biện pháp có điều kiện, cũng đảm bảo tính giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
. Tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo cùng chủ phương tiện đã thỏa thuận toàn bộ về bồi thường thiệt cho gia đình người bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu gì và có đơn bãi nại cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã giao trả 01 xe ô tô biển số 89C - 248.63 kèm theo 01 giấy đăng ký bản phô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô, cho anh Trần Xuân Tr (đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Văn M); giao trả cho anh T 01 xe mô tô biển số 81S4 - 5260 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký là đại diện cho gia đình bị hại; cần trả lại 01 giấy phép lái xe của bị cáo Hứa Văn H, là các chủ sở hữu hợp pháp.
- Về trách nhiệm dân sự: Chủ phương tiện, bị cáo và đại diện bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại, đại diện cho bị hại không có yêu cầu gì khác. Việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hứa Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hứa Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã B, Huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã hưởng án treo.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện E đã giao trả 01 xe ô tô biển số 89C - 248.63 kèm theo 01 giấy đăng ký bản phô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô, cho anh Trần Xuân Tr (đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Văn M); giao trả cho anh Kpuih Toa 01 xe mô tô biển số 81S4 - 5260 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký là đại diện cho gia đình bị hại ; Tòa án giao trả 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Hứa Văn H cho bị cáo là các chủ sở hữu hợp pháp.
(Đặc điểm các vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận chủ phương tiện, bị cáo và đại diện bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hứa Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Các đương sự; - Viện KSND Huyện E; - Công an Huyện E; - Chi cục THA dân sự Huyện E; - Toà án nhân dân tỉnh ĐăkLăk; - THA hình sự Công an Huyện E; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk. - Lưu hồ sơ, vi tính. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký tên, đóng dấu Nguyễn Thị Bích Thủy |