- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Doãn Tuấn - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày: 28 - 9 - 2023 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan A Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Nghĩa và Bà Trần Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Như Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Doãn T; giới tính: Nam; sinh 19 tháng 12 năm 1985 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 2, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: lớp 9/12; nghề nghiệp: lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Doãn H và bà Vũ Thị H; vợ: Phạm Thị Th, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: có 02 đứa, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 06/6/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Ngọc V, sinh năm 1967; nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ A Luyện Văn V, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
+ A Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Ông Phan Viết Th, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tiểu khu 5, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/4/2023, Lê Doãn T và A Lưu Luyện A đều là nhân viên lái xe của Công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu, có địa chỉ tại thôn Lực Điền, xã Minh Châu, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên thay nhau điều khiển xe ô tô tải BKS 89H - 007.12 của Công ty đi từ Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Hưng Yên theo hướng Nam - Bắc. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 06/4/2023, khi đến địa phận xã Phong Thu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thì Lê Doãn T là người trực tiếp điều khiển xe ô tô, còn anh Lưu Luyện A nằm ngủ tại ghế phụ bên phải trước đầu xe. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, xe ô tô đến Km 621+150 trên Quốc lộ 1A, thuộc địa phận tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì Lê Doãn T điều khiển xe trong trạng thái ngủ gật, không giữ khoảng cách an toàn nên phần bên phải đầu và phần bên phải thùng hàng xe ô tô va chạm với góc phía sau bên trái đuôi xe ô tô tải BKS 73C - 107.39 do A Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình điều khiển, đang chạy chậm và ra tín hiệu để dừng đỗ ở phần đường bên phải Quốc lộ 1A, phía trước cùng chiều. Hậu quả: anh Lưu Luyện A bị hất văng khỏi cabin rơi xuống mặt đường Quốc lộ 1A, bị thương nặng được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, 02 xe ô tô bị hư hỏng.
- Kết quả khám nghiệm 02 phương tiện gây tai nạn:
+ Dấu vết trên xe ô tô tải BKS 73C - 107.39: Phần bên trái cửa trên phía sau thùng hàng có dấu vết thủng, móp lún, hằn trượt kích thước (165 x 115)cm, chiều hướng từ sau tới trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 225cm. Phần bên trái cửa dưới phía sau thùng hàng có dấu vết móp, lún, hằn trượt bám dính chất màu trắng (Dạng sơn) kích thước (120 x 83)cm, chiều hướng từ sau tới trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 140cm. Mặt sau phần bên trái thA ngang phía sau khung sàn thùng hàng có dấu vết móp lún, trượt xước bám dính chất màu vàng (Dạng nhựa) và chất màu trắng (Dạng sơn) kích thước (90 x 15)cm, chiều hướng từ sau tới trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 125cm. Mặt sau thA đứng góc phía sau bên trái thùng hàng có dấu vết trượt xước, mất sơn màu xA, bám dính chất màu trắng (Dạng sơn) kích thước (250 x 6)cm, chiều hướng từ phải sang trái, điểm thấp nhất cách mặt đất 150cm. Khung gắn cụm đèn cong hướng từ sau tới trước. Phần sau bạt che phía bên trái thùng hàng có dấu vết rách, thủng, trượt kích thước (160 x 40)cm, chiều hướng từ sau tới trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 225cm. Mặt ngoài phần sau thành bên trái thùng hàng có dấu vết gãy, cong, rách, thủng, trượt xước bám dính chất màu trắng (Dạng sơn) kích thước (270 x 60)cm, chiều hướng từ sau tới trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 125cm. Thùng phụ tùng (Gắn ở phần sau bên trái khung xe) và phần sau chắn bùn cặp bánh sau cùng bên trái biến dạng, chiều hướng từ sau tới trước.
+ Dấu vết trên xe ô tô tải BKS 89H - 007.12: Phần bên phải đầu xe và phần trước bên phải thùng hàng gãy vỡ, biến dạng kích thước (430 x 270)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp giỏ trần cabin bung rời khỏi xe; góc phía trước bên phải có vết nứt vỡ, trượt xước bám dính chất màu xA (Dạng sơn) kích thước (100 x 40)cm. Khung cabin bên phải có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu xA (Dạng sơn) kích thước (18 x 10)cm, chiều hướng từ trước ra sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 150cm. Cánh cửa bên phải cabin cong vênh, biến dạng; mặt ngoài có dấu vết hằn trượt mất sơn màu trắng gồm các đường rộng 4cm vuông góc với nhau, bám dính chất màu vạng (Dạng nhựa) kích thước (70 x 60)cm, chiều hướng từ trước ra sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 117cm. Phần khung phía trên bên phải thùng hàng và phần bạt che bên ngoài có dấu vết biến dạng, rách, thủng, chiều hướng từ trước ra sau. Phần phía trước bên phải thành thùng xe bị biến dạng, cong, vênh; mặt ngoài có dấu vết trượt xước kích thước (80 x 60)cm, chiều hướng từ trước ra sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 135cm. Góc phía trước bên phải sàn thùng hàng có dấu vết biến dạng, gãy vỡ kích thước (200 x 80)cm, chiều hướng từ trước ra sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 100cm.
- Kết quả trưng cầu giám định dấu vết kỹ thuật hình sự: tại Kết luận giám định số 370/KL -KTHS ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Dấu vết trượt xước bám dính chất màu xA (dạng sơn) ở khung cabin bên phải xe ô tô tải BKS 89H - 007.12 (Ảnh 36 trong Bản ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu xA, bám dính chất màu trắng (Dạng sơn) ở thA đứng góc phía sau bên trái thùng hàng xe ô tô tải BKS 73C - 107.39 (Ảnh 15 đến ảnh 19 trong Bản ảnh giám định). Dấu vết hằn trượt mất sơn màu trắng, bám dính chất màu vàng (Dạng nhựa) ở cánh cửa bên phải cabin; Dấu vết biến dạng, gãy vỡ ở góc phía trước bên phải sàn thùng xe trên xe ô tô tải BKS 89H - 007.12 (Ảnh 37 đến 39 và 42 trong Bản ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết móp, lún, hằn trượt bám dính chất màu trắng (Dạng sơn) ở phần bên trái cửa dưới phía sau thùng hàng; Dấu vết móp, lún, trượt xước bám dính chất màu vàng (dạng nhựa) và chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt sau phần bên trái thA ngang phía sau khung sàn thùng hàng xe ô tô tải BKS 73C - 107.39 (Ảnh 9 đến 14 trong Bản ảnh giám định). Đặc điểm các dấu vết nêu trên phù hợp với tình huống phần bên phải đầu xe và phần bên phải thùng hàng xe ô tô tải BKS 89H - 007.12 va chạm với góc phía sau bên trái đuôi xe ô tô tải BKS 73C - 107.39 theo hướng từ sau tới trước so với trục dọc của xe ô tô tải BKS 73C - 107.39.
- Tại Bản kết luận giám định tử thi số 79/KLGĐTT-PC09 ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: nguyên nhân chết của anh Lưu Luyện A là Chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐ, ngày 18 tháng 5 năm 2023 Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã Ba Đồn xác định:
+ Tổng phần sửa chữa và thay thế, bao gồm công thợ và thuế VAT của xe ô tô BKS: 73C - 107.39 là: 16.995.000 đồng.
+ Tổng số tiền phải sửa chữa và thay thế, bao gồm tiền công thợ và thuế VAT của xe ô tô BKS 89H - 007.12 là: 918.653.780 đồng.
Tổng giá trị các tài sản tại thời điểm bị hư hỏng nếu phải sữa chữa và thay mới có trị giá: 935.648.780 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
+ Sau tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phan Viết Th: 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu bạc, BKS: 73C - 107.39; 01 (một) giấy đăng ký xe số 73015111; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT số EA 0860343; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số GCNBH: 22TN 220153391. Trả lại cho anh Nguyễn Văn Tùng: 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 460184117709. Trả lại cho Công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu: 01 (một) xe ô tô tải, nhãn hiệu HINO, BKS 89H - 007.12; 01 (một) giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TMCP Công Thương, chi nhánh Bắc Hưng Yên; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT số KD 7549579; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 8938538734383.
+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, C số 400141016168 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp cho Lê Doãn T vào ngày 02/11/2021, có giá trị sử dụng đến ngày 02/11/2026, được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
- Sau tai nạn xảy ra, kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy của bị cáo Lê Doãn T và người liên quan Nguyễn Văn T thể hiện kết quả 0.000 Mg/L và âm tính với ma túy.
- Trách nhiệm dân sự: đại diện gia đình bị hại anh Lưu Luyện A là ông Lưu Ngọc V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Viết Th (chủ sở hữu xe ô tô tải BKS 73C - 107.39) và đại diện của công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu đã cùng với bị cáo Lê Doãn T tiến hành thỏa thuận dân sự, cụ thể: đại diện gia đình anh Lưu Luyện A yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng, anh Phan Viết Thuật yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo T đồng ý và đã giao đủ số tiền theo yêu cầu. Riêng đại diện của công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu (Chủ sở hữu xe ô tô BKS 89H - 007.12) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 45/CT-VKSBĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình truy tố Lê Doãn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ tiền bồi thường theo thỏa thuận từ bị cáo; đại diện của công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu (Chủ sở hữu xe ô tô BKS 89H - 007.12) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự; bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt những người tham gia tố tụng trên không ảnh đến kết quả giải quyết vụ án, nên thống nhất tiến hành xét xử.
- Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Doãn T theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bị cáo Lê Doãn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
+ Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Doãn T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu các tài sản tạm giữ là đúng quy định, không xem xét gì thêm. Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, C số 400141016168 mang tên Lê Doãn T, chuyển theo hồ sơ vụ án, đề nghị trả lại cho bị cáo.
+ Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường đầy đủ theo thỏa thuận cho đại diện gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người này không có yêu cầu gì thêm; riêng đại diện của công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu (chủ sở hữu xe ô tô BKS 89H - 007.12) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không xem xét, xử lý.
+ Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lê Doãn T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhất trí với toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh , khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo, giáo dục tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, lời khai của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, đủ cơ sở xác định: Lê Doãn T có giấy phép lái xe hạng A1, C điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu HINO, BKS 89H - 007.12 tham gia giao thông trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Nam - Bắc, trên xe có anh Lưu Luyện A nằm ngủ tại ghế phụ bên phải trước đầu xe. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 06/4/2023, khi điều khiển xe ô tô đến Km 621+150 trên Quốc lộ 1A, thuộc địa phận Tổ dân phố Thọ Đơn, phường Quảng Thọ, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình thì Lê Doãn T điều khiển xe ô tô trong trạng thái ngủ gật, không giữ khoảng cách an toàn nên đã va chạm vào phía sau xe ô tô tải BKS 73C - 107.39 do anh Nguyễn Văn T điều khiển, đang chạy chậm và ra tín hiệu để dừng đỗ ở phần đường bên phải Quốc lộ 1A, phía trước cùng chiều. Làm anh Lưu Luyện A, người đi cùng xe với Lê Doãn T bị hất văng khỏi cabin rơi xuống mặt đường Quốc Lộ 1A. Hậu quả anh Lưu Luyện A chết do Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, 02 xe ô tô bị hư hỏng, tổng thiệt hại 935.648.780 đồng.
Số tiền thiệt hại cho xe ô tô tải BKS 89H - 007.12 là 918.653.780 đồng do Lê Doãn T gây ra, xe ô tô này thuộc sở hữu của Công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu. Giữa Công ty với Lê Doãn T đã ký kết Hợp đồng lao động số 96 ngày 01 tháng 02 năm 2023, theo nội dung của Hợp đồng là giao cho T trực tiếp quản lý, lái xe và tự chịu trách nhiệm bảo quản xe, hàng hóa. Trường hợp xảy ra tai nạn giao thông gây thiệt hại về tài sản cho Công ty thì Lê Doãn T phải bồi thường cho Công ty. Số tiền thiệt hại cho công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu thì Lê Doãn T phải có trách nhiệm bồi thường nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với vấn đề gây thiệt hại về tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Số tiền thiệt hại cho xe ô tô BKS 73C - 107.39 là 16.995.000 đồng do Lê Doãn T gây ra, không đủ mức thiệt hại chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, các thiệt hại xảy ra trên cần xem xét về phần trách nhiệm dân sự, theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại các Điều 585, 589, 601 Bộ luật dân sự.
Vì vậy, hành vi điều khiển xe ô tô của Lê Doãn T nêu trên đã vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và các Điều 4, 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải, làm chết 01 người, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 45/CT-VKSBĐ ngày 08/9/2023 là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặc dù tai nạn xảy ra là không ai mong muốn nhưng nếu bị cáo có ý thức chấp hành đúng luật giao thông đường bộ thì đã không xảy ra hậu quả đáng tiếc là làm chết người. Do vậy, cần xét xử bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện của bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt và hình phạt bổ sung: trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do xét thấy không cần thiết.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 10.000.000 đồng, những người này nhận đủ tiền không có yêu cầu gì thêm; đại diện của công ty TNHH TM & vận tải Minh Hiếu không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản tạm giữ trong vụ án cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, C số 400141016168 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/11/2021.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Doãn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Doãn T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2023).
Giao bị cáo Lê Doãn T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo Lê Doãn T 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, C số 400141016168, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 02/11/2021 (Giấy phép lái xe hiện đang lưu kèm hồ sơ vụ án).
4. Án phí: buộc bị cáo Lê Doãn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2023); người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thị xã Ba Đồn; - Công an thị xã Ba Đồn; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn; - UBND xã Lý Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; - THA hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan A Đức |