- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thúy - Cường mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính từ ngày tuyên án đến thời điểm bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày 24-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Phạm Văn Sóng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Liễu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm -Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thu T, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1993, tại Hải Phòng; nơi cư trú Thôn a, xã b, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ V (đã chết) và bà Đỗ Thị S; có 02 con (sinh năm 2011, 2021) tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 10 năm 2022 đến ngày 13 tháng 10 năm 2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng; có mặt.
2. Nguyễn Cao C, sinh ngày 25 tháng 2 năm 1985; tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Thôn d, xã c, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn Bấc 1, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng B và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 10 năm 2022 đến ngày 13 tháng 10 năm 2022 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1998, nơi cư trú: Thôn 10, xã v, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
2. Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 2002, nơi cư trú: Thôn 9, xã n, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố a, thị trấn b, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm và thu nhập ổn định nên khoảng cuối tháng 9 năm 2022, Nguyễn Thu T nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ bán để kiếm lời. Thực hiện ý định, T bàn bạc với Nguyễn Cao C và thuê C đi giao ma túy cho các đối tượng mua. T trả công cho C bằng ma túy để sử dụng và tiền để tiêu sài. T đi mua ma túy đá về chia nhỏ, đóng gói vào các ống nhựa nhiều màu và túi nilon sau đó đưa cho C để giao cho các đối tượng nghiện có nhu cầu. Khi có người hỏi mua ma túy, T yêu cầu chuyển tiền mua ma túy cho T vào số tài khoản 939368666666 tại Ngân hàng Quân đội. Sau khi nhận được tiền, T sẽ liên hệ và hẹn địa điểm để C mang ma túy đến giao cho khách. Chiều ngày 02-10-2022, T sang khu vực chân cầu An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng mua 5.800.000 đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết được 01 túi và 06 viên ma túy đá. T mang về chia nhỏ vào các ống hút nhựa các màu và túi nilon rồi đưa tất cả cho C để bán. C mang ma túy về nhà trọ ở thôn Bấc 1, xã Thủy Đường, C sử dụng hết 02 ống ma túy, số còn lại C cất dấu tại nơi ở, mục đích để ai hỏi mua thì bán. Do C làm vỡ 01 ống ma túy nên C đã đổ ma túy của ống bị vỡ vào túi ni lông có kích thước 2x2cm. Trong thời gian bán ma túy cho T, C được T trả công bằng ma túy và tiền, cụ thể số tiền bao nhiêu C không nhớ chỉ nhớ 01 lần T trả cho C 200.000 đồng vào ngày 03-10-2022. Với hình thức bán ma túy như trên, C và T đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy nhưng chỉ nhớ cụ thể 03 lần sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03-10-2022, tại khu vực trung tâm dạy nghề huyện Thủy Nguyên, T, C bán ma túy cho Phan Văn Hải và Hoàng Phú Trường cư trú tại thôn 4, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên 01 ống ma túy với giá 500.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 03-10-2022, tại khu vực cổng trường trung học phổ thông Nam Triệu thuộc xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, T, C bán cho Phan Văn Hải và Hoàng Phú Trường cư trú tại thôn 4, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên 01 ống ma túy với giá 500.000 đồng.
Lần thứ 3: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04-10-2022, Phan Văn Hải gọi điện thoại cho T đặt mua 500.000 đồng ma túy. T yêu cầu Hải chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản 939368666666 tại Ngân hàng Quân đội của T. T đưa điện thoại cho C liên hệ để hẹn điểm giao ma túy. Một lúc sau, Hoàng Văn Hậu, Nguyễn Thành Long lần lượt gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy thì C nghe máy, Hậu hỏi mua 800.000 đồng ma túy, Long mua 500.000 đồng ma túy. C đồng ý, C yêu cầu Hậu, Long chuyển tiền vào số tài khoản 9704227896532 tại Ngân hàng Quân đội của C. Sau khi chuyển tiền, Hải gọi cho T đã chuyển tiền thì C hẹn Hậu, Hải, Long đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn Núi 1, xã Thủy Đường để giao dịch. C điều khiển xe mô tô BKS 15G1-881.11 đến điểm hẹn thì gặp Hải, Đạt, Long, Hậu. C bán cho Hải và Đạt 01 ống ma túy, khi đang chuẩn bị bán ma túy cho Long, Hậu thì bị lực lượng công an bắt quả tang thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Hải đang mặc 01 đoạn ống hút nhựa màu đen dài 05cm, hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và 01 điện thoại di động. Tại túi áo khoác bên trái C đang mặc 11 đoạn ống hút nhựa dài 05cm, hàn kín 02 đầu, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); tại túi quần phía trước bên phải C đang mặc đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 05cm, hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng (đều nghi là chất ma túy), 02 điện thoại di động; 01 chiếc xe mô tô của C, 01 điện thoại di dộng của hậu, 01 điện thoại di động của Long.
Khám xét nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Cao C, cơ quan điều tra thu giữ tại mặt trạm bếp trong phòng trọ của C 06 túi nilon màu trắng, trong suốt kích thước 1,5x2cm, bên trong mỗi túi chứa 01 viên nén màu hồng (nghi là chất ma túy); 01 kéo, 01 cuộn băng dính màu đen vào 10 đoạn ống hút nhựa màu đen. Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực liên quan của T và C, cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ gì.
Lời khai của các đối tượng mua ma túy Phan Văn Hải, Phạm Văn Đạt, Hoàng Văn Hậu, Nguyễn Thành Long, Hoàng Phú Trường khai nhận phù hợp với nhau về việc góp tiền mua ma túy của T và C về để tự sử dụng.
Kết luận giám định số 520/KL-KTHS (MT) ngày 07-10-2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 01 đoạn ống hút nhựa màu đen thu tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Phan Văn Hải là ma túy có khối lượng 0,05gam là loại Methaphetamine; tinh thể màu trắng có trong 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 0,5cm và 01 túi nilon thu tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Cao C là ma túy có khối lượng 0,77gam là loại Methaphetamine; tinh thể màu trắng có trong 11 ống hút nhựa thu giữ tại túi áo khoác của C là ma túy có khối lượng 2,91 gam là loại Methaphetamine; 06 viên nén thu giữ tại phòng trọ của C là ma túy có khối lượng 0,59gam loại Methaphetamine.
Vật chứng: Chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong tại bì thư số 520/MT/PC09; 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0339.265.852; 01 kéo; 01 cuộn băng dính màu đen, 10 đoạn ống hút nhựa màu đen của C; 01 điện thoại di động hiệu Iphone găn sim số 0903.104.666 thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung gắn sim số 0799.776.459 thu giữ của Hải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0783.188.268 thu giữ của Hậu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco gắn sim số 0376.766.877 thu giữ của Long đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
Chiếc xe mô tô BKS 15G1-881.11 thu giữ của C, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thanh Thủy, sinh năm 1984, chị Thủy cho C mượn xe để chở T đi khám răng, chị Thủy không biết việc C dùng chiếc xe ô tô đi bán ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Thủy.
Đối với Phan Văn Hải, Phạm Văn Đạt là những người mua ma túy của C và T để sử dụng cho bản thân. Khối lượng ma túy thu của Hải và Đạt không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân thân các đối tượng chưa có tiền án tiền sự về các tội liên quan đến ma túy nên Công an huyện Thủy Nguyên đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.
Đối với Nguyễn Thành Long và Hoàng Văn Hậu có hành vi giao dịch mua ma túy của C để sử dụng, tuy nhiên Long và Hậu chưa nhận được ma túy nên cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên không xử lý.
Tại phiên tòa các bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì. T trình bày nguồn gốc số ma túy T mua về chia nhỏ rồi đưa cho C bán cho các đối tượng nghiện là do T mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực chân cầu An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, T không biết họ tên địa chỉ của người đã bán ma túy cho T.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSTN ngày 27 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố Nguyễn Thu T, Nguyễn Cao C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị:
-Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251, các điều 38, 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thu T từ 09 đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt đi chấp hành án. Trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ tính từ ngày 04 tháng 10 năm 2022 đến ngày 13 tháng 10 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251, các điều 38, 17, 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Cao C từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu tiêu hủy chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong tại bì thư số 520/MT/PC09; 01 kéo; 01 cuộn băng dính màu đen, 10 đoạn ống hút nhựa màu đen của C; Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0339.265.852 thu giữ của C; 01 điện thoại di động hiệu Iphone găn sim số 0903.104.666 thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn sim số 0799.776.459 thu giữ của Hải. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng do T thu lợi từ việc bán ma túy vào ngày 03,04 tháng 10 năm 2022. (1.000.000 đồng ngày 03-10-2022 và 500.000 đồng ngày 04-10-2022), Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.300.000 đồng do C thu lợi từ việc bán ma túy ngày 04-10-2022 và 200.000 tiền T trả công cho C vào ngày 03-10-2022. Trả lại cho Hoàng Văn Hậu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0783.188.268; Trả lại cho Nguyễn Thành Long 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco gắn sim số 0376.766.877. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, định khung hình phạt: Trong khoảng thời gian từ ngày 03-10-2022 đến ngày 04-10-2022 tại khu vực huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Nguyễn Thu T và Nguyễn Cao C có hành vi 03 lần bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Phan Văn Hải, Hoàng Phú Trường, Phạm Văn Đạt, Hoàng Văn Hậu, Nguyễn Thành Long bị công an bắt quả tang ngày 04-10-2022. Lượng ma túy thu giữ được là 4,32gam Methaphetamine. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b (phạm tội 02 lần trở lên),c (đối với 02 người trở lên) khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về phân hóa vai trò và hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để làm cơ sở cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Bị cáo T là người khởi xướng, là người lên kế hoạch cho việc thực hiện hành vi phạm tội và là người trực tiếp mua ma túy về chia nhỏ và đóng gói và thuê C mang giao cho các đối tượng mua ma túy. Vì vậy, T có vai trò chính trong vụ án nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn so với bị cáo C. Bị cáo C tiếp nhận ý chí của bị cáo T, là người thực hành tích cực nhưng là người được T thuê đi giao ma túy nên áp dụng hình phạt thấp hơn so với bị cáo T.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T hiện đang nuôi 02 con nhỏ, một con dưới 36 tháng tuổi, 1 con bị tật nguyền, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Với những phân tích như trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong tại bì thư số 520/MT/PC09; 01 kéo; 01 cuộn băng dính, 10 đoạn ống hút nhựa màu đen của C; Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0339.265.852 thu giữ của C; 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0903.104.666 thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn sim số 0799.776.459 thu giữ của Hải. Truy thu số tiền 1.500.000 đồng bị cáo T có được từ những lần bán ma túy của các ngày vào ngày 03,04 tháng 10 năm 2022. Truy thu số tiền 1.300.000 đồng bị cáo C có được từ việc bán ma túy của 04 tháng 10 năm 2022 và 200.000 tiền T trả công cho C vào ngày 03-10-2022. Trả lại cho Hoàng Văn Hậu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0783.188.268; Trả lại cho Nguyễn Thành Long 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco gắn sim số 0376.766.877.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b,c khoản 2 Điều 251; các Điều 38, 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thu T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt đi chấp hành án. Trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ tính từ ngày 04 tháng 10 năm 2022 đến ngày 13 tháng 10 năm 2022.
Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính từ ngày tuyên án đến thời điểm bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.
2. Căn cứ vào điểm b,c khoản 2 Điều 251; các Điều 38, 17, 58; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Cao C 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ 04 tháng 10 năm 2022.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 520/MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 kéo (đã qua sử dụng); 01 cuộn băng dính (đã qua sử dụng), 10 đoạn ống hút nhựa màu đen;
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0339.265.852 của Nguyễn Cao C (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0903.104.666 của Nguyễn Thị T (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung gắn sim số 0799.776.459 thu giữ của Phan Văn Hải (đã qua sử dụng);
- Trả lại cho Hoàng Văn Hậu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0783.188.268; Trả lại cho Nguyễn Thành Long 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco gắn sim số 0376.766.877.
(theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Bị cáo Nguyễn Thu T phải nộp lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; Bị cáo Nguyễn Cao C phải nộp lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được nêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Mai
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của
Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |