vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Trọng H (Nga) phạm tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác».

Xử phạt bị cáo Võ Trọng H (Nga) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Võ Trọng H cho Ủy ban nhân dân Phường A6, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Võ Trọn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "- Tuyên bố bị cáo Võ Trọng H (Nga) phạm tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác». - phạm tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Trọng H (Nga) phạm tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác».
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 315 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 31/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Hoàng.

Ông Trần Đức Nhì.

- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minhtham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Trọng H (tên thường gọi là N); Sinh ngày: 14/02/1995; Tại: Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú: 365/36/116 đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn L và bà: Nguyễn Thị T; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Bà Lại Thị Thắng H1; Sinh năm: 1968; Thường trú: 37 đường T (nối dài), Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(bà Lại Thị Thắng H1 đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lại Thị Thắng H1:

1. Bà Lại Thị L1; Sinh năm: 1943 - Là mẹ của bà Lại Thị Thắng H1; Trú tại: 1 đường V, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Văn D; Sinh năm: 1973 - Là chồng của bà Lại Thị Thắng H1; Trú tại: C đường T (nối dài), Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Bà Lại Thị Yến O; Sinh năm: 1992 - Là con của bà Lại Thị Thắng H1; Trú tại: C đường T (nối dài), Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

4. Ông Lại Hoàng V; Sinh năm: 2000 - Là con của bà Lại Thị Thắng H1; Thường trú: 37 đường T (nối dài), Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 đường V, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Ôn Kim Quốc B; Sinh ngày: 20/3/2003; Thường trú: C đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh; Tạm trú: 210/6/50 đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Ông Đặng Ngọc Hoàng A; Sinh năm: 1996; Thường trú: 15/3 đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh; Chỗ ở: I đường V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Ông Dương Anh T1; Sinh năm: 1993; Trú tại Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

(vắng mặt)

4. Bà Nguyễn Lệ H2; Sinh năm: 1965; Thường trú: 64 đường số B, khu dân cư B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H3: Ông Võ Thành L2; Sinh năm: 1988; Thường trú: 119/Tt ấp TT, BT, BTR, tỉnh Bến Tre; Tạm trú: 64 đường số B, khu dân cư B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh.

(có Đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Lệ H2: Bà Võ Thị Mỹ H4 - Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

(có Đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 29/9/2021, bà Lại Thị Thắng H1 đến Ủy ban nhân dân Phường A5, Quận A tiêm mũi 2 vắc xin Covid-19 (loại Astrazeneca). Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, Võ Trọng H kêu ông Ôn Kim Quốc B đi đón bà H1 về nhà trọ của H, địa chỉ E đường số D, Phường A, Quận F để tiêm Filler mông, đùi (bơm độn mông, đùi) theo yêu cầu của bà H1. Đến nơi, bà H1 lên lầu 1 gặp H tiêm Filler, còn ông B ngồi dưới tầng trệt đợi để đưa bà H1 về nhà. Sau khi tiêm Filler vào vùng mông (khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/9/2021), bà H1 có biểu hiện mệt mỏi, khó thở nên H nhờ ông B và ông Đặng Ngọc Hoàng A (là những người đang cư ngụ cùng H tại nhà trọ) đưa bà H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Q1, đồng thời gọi điện thông báo ông Nguyễn Văn D (chồng bà H1), bà Lại Thị Yến O (con bà H1) biết. Sau đó, bà H1 được chuyển đến Bệnh viện N3 cấp cứu, nhưng bà H1 đã chết tại Bệnh viện N3 vào lúc 16 giờ 05 phút cùng ngày. Sau khi nghe tin bà H1 chết, H đã đến Công an P7, Quận F trình báo việc tự ý tiêm Filler vào người bà H1.

Vụ việc đượcCông an P7, Quận F chuyển giao Cơ quan điều tra Công an Q2 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra Võ Trọng H khai: Khoảng 09 giờ ngày 29/9/2021, bà Lại Thị Thắng H1 gọi điện thoại kêu H cho người qua đón bà H1 đến nhà của H (địa chỉ E đường số D, Phường A, Quận F) để trao đổi công việc. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, H kêu Ôn Kim Quốc B chạy xe gắn máy qua nhà của bà H1 (địa chỉ C đường T, Phường A, Quận A) chở bà H1 qua nhà H. Đến nơi, bà H1 lên lầu 1 gặp H, sau một hồi nói chuyện công việc, bà H1 yêu cầu H tiêm chất Filler vào mông cho bà. Do trước đó bà H1 nhiều lần đến chỗ H làm đẹp nên H đồng ý tiêm và không lấy tiền. Đến 12 giờ cùng ngày, H lấy 01 lọ thủy tinh bên ngoài có dán dòng chữ Filler HA trong tủ hấp ra tiêm vào hai bên mông của bà H1 24ml (mỗi bên tiêm 12ml). Sau khi tiêm được khoảng 05 phút, bà H1 có biểu hiện mệt mỏi, khó thở. Lúc này bà H1 mới nói cho H biết vừa đi tiêm vắc xin Astrazeneca lúc 08 giờ 30 phút. Nghe vậy, H liền nhờ các ông B, Hoàng A đưa bà H1 đến Bệnh viện Q1 cấp cứu rồi gọi điện thoại thông báo cho chồng con của bà H1 là ông D, bà O biết. Sau khi nghe tin bà H1 chết (khoảng 21 giờ ngày 29/9/2021), H đến Công an P7, Quận F trình báo việc tự ý tiêm F vào người bà H1, sau đó bà H1 bị tử vong. Tuy nhiên, do chưa tiếp nhận thông tin từ phía gia đình bà H1, nên Công an Phường 11 ghi nhận và tạm cho H về. Đến 19 giờ 30 phút ngày 02/10/2021, H tiếp tục đến Công an P7, Quận F trình diện. H xác nhận không được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh dịch vụ làm đẹp tại địa chỉ E đường số D, Phường A, Quận F và bản thân H cũng không có bằng cấp gì về dược học hay y học do Cơ quan có thẩm quyền cấp.

Về nguồn gốc chất Filler, đầu năm 2021 H lên mạng xã hội đặt mua 01 lọ chất Filler HA, dung tích 50ml với giá 3.000.000 đồng để tiêm cho bản thân và H đã tự tiêm vào 02 lỗ tai của H (mỗi bên tiêm 02ml). Đến ngày 29/9/2021, H tiếp tục sử dụng hóa chất này tiêm cho bà H1 như nêu trên. Khi nghe tin bà H1 tử vong, H đã gom các dụng cụ tiêm cho bà H1 bỏ vào thùng rác công cộng trước nhà số E đường D, Phường A, Quận F.

Theo kết quả chẩn đoán ban đầu của Bệnh viện N3, bà Lại Thị Thắng H1 nhập viện cấp cứu lúc 14 giờ 28 phút ngày 29/9/2021 trong tình trạng đã ngưng tuần hoàn hô hấp, bệnh viện đã tiến hành cấp cứu nhưng không có kết quả, bà H1 đã tử vong. Nguyên nhân nghi do phản vệ độ IV chưa rõ dị nguyên, chưa loại trừ ngộ độc thuốc tê /NB tiêm mũi 2 vắc xin AstraZeneca giờ thứ 8 và tiêm Filler vùng mông hai bên, test nhanh Covid-19 âm tính.

Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Không có dấu vết thương tích do ngoại lực tác động trên thân thể nạn nhân; Sưng bầm mông phải 18x16cm; Khoang màng phổi hai bên chứa ít dịch vàng chanh; Hai phổi phù; Tụ máu nhỏ mặt trước bao tim; Bao tim chứa ít dịch vàng chanh (tim không dập vỡ).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1680/TT.21 ngày 14 tháng 10 năm 2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận giám định pháp y về tử thi đối với bà Lại Thị Thắng H1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Các dấu hiệu chính khi khám nghiệm:

+ Đột tử khi đang được tiêm độn mông.

+ Có nhiều vết tiêm kèm sưng tím bầm hai mông.

+ Có ít dịch vàng chanh trong hốc phổi hai bên.

+ Hai phổi phù.

+ Các tạng khác không thấy tổn thương.

- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học:

+ Nhồi máu cơ tim cấp thất phải.

+ Thuyên tắc mạch phổi do mỡ.

- Kết quả xét nghiệm độc chất: Không phát hiện các chất gây độc.

2. Nguyên nhân chết: Tiêm độn mông gây thuyên tắc mạch phổi do mỡ.

3. Kết luận khác: Không.

Và tại Văn bản số: 1680-GT/TgT.21 ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải thích pháp y đối với bà Lại Thị Thắng H1 như sau: Việc tiêm vắc xin không có ảnh hưởng hay liên quan đến nguyên nhân tử vong của bà Lại Thị Thắng H1.

Tại Văn bản số: 1836/TCKH ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Phòng T6: Địa chỉ số E đường số D, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh không hoạt động kinh doanh theo hình thức hộ gia đình,hình thức doanh nghiệp tư nhân.

Tại Văn bản số: 3664/SYT-QLDVYT ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin như sau: chỉ số E đường số D, Phường A, Quận F cũng chưa được Sở Y tế cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.

Tại Văn bản số: 379/Ttra ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin:

- Việc tiêm filler hay chất làm đầy là kỹ thuật của chuyên ngành Da liễu và Thẩm mỹ, do đó người thực hiện là bác sĩ có chứng chỉ hành nghề theo Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và phải có chứng nhận, chứng chỉ được đào tạo chuyên môn về tiêm filler hay chất làm đầy theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 21/2017/TT-BYT ngày 10/5/2017 của Bộ Y.

- Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ không thuộc loại hình phải có giấy phép hoạt động nhưng phải có văn bản thông báo đáp ứng đủ điều kiện cung cấp dịch vụ thẩm mỹ theo mẫu quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Nghị định số 1558/2018/NĐ-CP ngày 28/11/2018 của Chính phủ gửi về Sở Y tế nơi đặt trụ sở trước khi hoạt động ít nhất 10 ngày.

Các dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người (phẫu thuật, thủ thuật, các can thiệp có tiêm, chích, bơm, chiếu tia, sóng, đốt hoặc các can thiệp xâm lấn khác) làm thay đổi màu sắc da, hình dạng, cân nặng, khiếm khuyết của các bộ phận trên cơ thể (da, mũi, mắt, môi, khuôn mặt, ngực, bụng, mông và các bộ phận khác trên cơ thể người), xăm, phun, thêu trên da có sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm chỉ được thực hiện tại bệnh viện có chuyên khoa thẩm mỹ hoặc phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác có phạm vi hoạt động chuyên môn về chuyên khoa thẩm mỹ tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Việc Võ Trọng H không có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tiêm filler tại cơ sở không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh vi phạm:

Điểm a khoản 7 Điều 38 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế «Khám bệnh, chữa bệnh khi chưa được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh».

Điểm a khoản 6 Điều 39 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế «Cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh».

Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: MST 644/ĐC.2022 ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu chất lỏng bên trong ống thủy tinh màu nâu, có ghi dòng chữ Fatig không phát hiện các chất thường gặp như: Acetaminophen (P), A1, A2, A3, A4, B1, B2, C, C1, C2, C3, C4, C5, C6, C7, C8, C9, D1, D2, EPN, F1, F2, F3, H5, H6, I, I1, Ketamine, L3, MDMA, Malathion, Methamphetamine, M, M1, M2, N1, N2, P, P1, P2, P3, P4, P5, P6, T3và T4 bằng máy sắc ký khí ghép khối phổ ba tứ cực (Agilent 8890 GC System/ 7000 GC-TQ) và máy sắc ký lỏng ghép khối phổ phân giải cao tứ cực - thời gian bay (Agilent 6545 LC/Q-TOF).

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, Cơ quan điều tra Công an Q2 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 82/QĐ-ĐCSHS); ngày 29 tháng 9 năm 2022, ra quyết định khởi tố bị can đối với Võ Trọng H về tội «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác» (Quyết định số: 137/QĐ-ĐCSHS).

Đối với các ông Ôn Kim Quốc B, Đặng Ngọc Hoàng A. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi của Võ Trọng H, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số:43/CT-VKS-Q6 ngày 09 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Trọng H về tội «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác» theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 315 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Võ Trọng H khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi tiêm filler cho bà Lại Thị Thắng H1 tại phòng trọ của bị cáo, địa chỉ E đường số D, Phường A, Quận F vào trưa ngày 29/9/2021, làm bà H1 tử vong như nội dung bản cáo trạng nêu. Về bồi thường thiệt hại, sau sự việc xảy ra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường chi phí mai táng cho bà H1 70.000.000 đồng, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bà H1 300.000.000 đồng (tổng cộng là 370.000.000 đồng), do chồng bà H1 là ông Nguyễn Văn D đại diện nhận và gia đình bà H1 đã làm Đơn bãi nại cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Trọng H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Võ Trọng H từ 01 năm06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 05 năm về tội «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác» theo điểm a khoản 1 Điều 315; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Phạt tiền bị cáo Võ Trọng H từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về bồi thường thiệt hại: Đã thỏa thuận bồi thường xong, nên không đề nghị giải quyết.

Đối với số tiền 70.000.000 đồng mà ông Lại Hoàng V đề nghị ông Nguyễn Văn D giao lại cho ông, thì ông V có quyền khởi kiện trong một vụ án dân sự khác, nếu sau này ông V có Đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật, nên không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 lưỡi dao còn nguyên trong gói; 03 cuộn chỉ chưa qua sử dụng; 03 ống xi xanh (vỏ ống tiêm) đã qua sử dụng; 03 ống xi xanh (vỏ ống tiêm) chưa qua sử dụng; 01 hộp giấy, bên trong có 10 ống tiêm đã qua sử dụng; 04 găng tay phẫu thuật chưa qua sử dụng; 07 ống thủy tinh màu nâu, có ghi chữ Fatig, bên trong có chứa chất lỏng; 25 ống tiêm chưa qua sử dụng; 25 lọ nhựa trắng nắp đỏ chưa qua sử dụng; 01 dụng cụ đo huyết áp đã qua sử dụng; 01 ống xi lanh chưa qua sử dụng; 01 hộp sống mũi giả bằng nhựa chưa qua sử dụng; 06 gạc phẫu thuật màu hồng chưa qua sử dụng; 50 kim lăn chưa qua sử dụng; 01 bịch bông băng chưa qua sử dụng; 01 túi thuốc màu xanh bằng vải, bên trong có nhiều loại thuốc tây; 100 ống nhựa chưa qua sử dụng; 01 tủ diệt khuẩn.

Trả lại ông Ôn Kim Quốc B 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen.

Giao 14 hồ sơ chụp X-Quang cho Công an Q2 giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định pháp luật.

Đối với 01 đĩa DVD (chứa file dữ liệu ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai, hỏi cung Võ Trọng H), đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T5 (bút lục 229), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Q2 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Võ Trọng H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Ngoài ra, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin mọi người trong gia đình tha thứ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; những tham gia tố tụng khác và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại Lại Thị Thắng H1 là các ông, bà Lại Thị L1, Nguyễn Văn D, Lại Thị Yến O, Lại Hoàng V vắng mặt không rõ lý do dù đã được triệu tập hợp lệ; người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H3; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Lệ H2 có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởngđến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Võ Trọng H tại phiên tòa với Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 30/9/2021; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1680/TT.21 ngày 14/10/2021 và Văn bản số: 1680-GT/TgT.21 ngày 28/01/2022 của Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản số: 379/Ttra ngày 23/3/2022 của Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản số: 3664/SYT-QLDVYT ngày 19/5/2023 của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản số: 1836/TCKH ngày 04/11/2021 của Phòng T6; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; lời khai của các ông Ôn Kim Quốc B, Đặng Ngọc Hoàng A, của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáoVõ Trọng H đã phạm tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 315 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Khoảng 12 giờ ngày 29/9/2021, tại nhà số E đường số D, Phường A, Quận F, bị cáo Võ Trọng H đã có hành vi tiêm filler vào hai bên mông của bà Lại Thị Thắng H1, dẫn đến bà H1 bị tử vong nguyên nhân do «Tiêm độn mông gây thuyên tắc mạch phổi do mỡ». Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý về dịch vụ y tế của Nhà nước mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại. Hành vi này đã vi phạm điểm a khoản 7 Điều 38 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ; điểm a khoản 6 Điều 39 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ dẫn đến hậu quả «Làm chết người». Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác» thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 315 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Võ Trọng H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận biết được việc tiêm filler hay chất làm đầy là kỹ thuật của chuyên ngành Da liễu và Thẩm mỹ, do đó người thực hiện phải là bác sĩ có chứng chỉ hành nghề theo Luật khám bệnh, chữa bệnh và phải có chứng nhận, chứng chỉđược đào tạo chuyên môn về tiêm filler hay chất làm đầy theo quy định pháp luật. Bản thân bị cáo không có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, không đủ điều kiện để được tiêm filler hay chất làm đầy, nhưng do thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật,nên để xảy ra tai nạn ngoài ý muốn dẫn đến cái chết của bà H1, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Võ Trọng H là nghiêm trọng, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại, đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự). Khi sự việc xảy ra, bị cáo đã hết lòng nhờ người đưa bị hại đi cấp cứu rồi tự đến Công an P7, Quận F trình báo, khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình tùy theo quy định tại điểm b, điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Và xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; hiện có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có người bảo lãnh. Ngoài ra, theo kết quả xác minh của Công an P7, Quận F thì từ khi được tại ngoại đến nay, bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác, tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Qua xem xét đánh giá, Hội đồng xét xử nhận thấy bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt, nên thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa những sai lầm đã phạm phải.

Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Võ Trọng H theo quy định tại khoản 4 Điều 315 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Việc bồi thường thiệt hại:

Sau khi bà Lại Thị Thắng H1 chết, bị cáo Võ Trọng H đã thỏa thuận bồi thường chi phí mai táng cho bà H1 70.000.000 đồng, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bà H1 300.000.000 đồng (tổng cộng 370.000.000 đồng), do chồng bà H1 là ông Nguyễn Văn D nhận (theo hai Biên nhận tiền bồi thường ngày 20/11/2022, ngày 15/12/2022 - bút lục 233, 234). Tại phiên tòa, bà Lại Thị L1 (mẹ bà H1), ông D cùng các con bà H1 là Lại Thị Yến O, Lại Hoàng V vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra cũng như trong giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, bà L1, ông D, bà O, ông V đồng ý với số tiền 370.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường cho gia đình các ông, bà. Mặt khác, bà L1, bà O, ông V đều biết ông D là người đứng ra nhận số tiền trên, nhưng các ông, bà này đều không có ý kiến, không thắc mắc khiếu nại, cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đồng ý bãi nại, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (bút lục 111, 113, 280, 293, 295), do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Còn việc ông Lại Hoàng V đề nghị ông Nguyễn Văn D giao lại cho ông 70.000.000 đồng (trong số tiền 300.000.000 đồng mà ông D nhận từ bị cáo Võ Trọng H) theo Đơn tường trình ngày 07/3/2023 (búc lụt 293),thì ông V có quyền khởi kiện yêu cầu ông D hoàn trả lại trong một vụ án dân sự khác, nếu sau này ông V có Đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 lưỡi dao còn nguyên trong gói; 03 cuộn chỉ chưa qua sử dụng; 03 ống xi xanh (vỏ ống tiêm) đã qua sử dụng; 03 ống xi xanh (vỏ ống tiêm) chưa qua sử dụng; 01 hộp giấy, bên trong có 10 ống tiêm đã qua sử dụng; 04 găng tay phẫu thuật chưa qua sử dụng; 07 ống thủy tinh màu nâu, có ghi chữ Fatig, bên trong có chứa chất lỏng; 25 ống tiêm chưa qua sử dụng; 25 lọ nhựa trắng nắp đỏ chưa qua sử dụng; 01 dụng cụ đo huyết áp đã qua sử dụng; 01 ống xi lanh chưa qua sử dụng; 01 hộp sống mũi giả bằng nhựa chưa qua sử dụng; 06 gạc phẫu thuật màu hồng chưa qua sử dụng; 50 kim lăn chưa qua sử dụng; 01 bịch bông băng chưa qua sử dụng; 01 túi thuốc màu xanh bằng vải, bên trong có nhiều loại thuốc tây; 100 ống nhựa chưa qua sử dụng; 01 tủ diệt khuẩn, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen thu giữ của ông Ôn Kim Quốc B. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho ông B do không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo Võ Trọng H. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 14 hồ sơ chụp X-Quang, xét thấy không liên quan gì đến vụ án này, nên cần giao lại cho Công an Q2 giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định pháp luật.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 35/PNK ngày 21 tháng 4 năm 2022của Công an Q2; Quyết định chuyển vật chứng số: 08/QĐ-VKS-Q6 ngày 06tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 01 năm 2023 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 - bút lục 165, 245, 251)

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng, 01 áo khoác màu vàng; 01 nón vải màu kem; 01 Giấy xác nhận tiêm Covid-19 (mang tên Lại Thị Thắng H1) và số tiền 9.448.000 đồng, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Lại Thị Thắng H1, nên đã xử lý trả lại cho gia đình bà H1, do ông Nguyễn Văn D (chồng bà H1) ký nhận (theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 04/11/2021 - bút lục 163), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với 01 đĩa DVD (chứa file dữ liệu ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai, hỏi cung Võ Trọng H), đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T5 (bút lục 229), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với các ông Ôn Kim Quốc B, Đặng Ngọc Hoàng A, Viện kiểm sát xác định không liên quan đến hành vi của bị cáo Võ Trọng H, nên không xem xét trách nhiệm pháp lý, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với người mà bị cáo Võ Trọng H khai bán Filler HA cho bị cáo thông qua mạng xã hội, do bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Bị cáo Võ Trọng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Võ Trọng H (Nga) phạm tội: «Vi phạm quy định về dịch vụ y tế khác».

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 315; điểm b, điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 65 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Võ Trọng H (Nga) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Võ Trọng H cho Ủy ban nhân dân Phường A6, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Võ Trọng H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 4 Điều 315 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Buộc bị cáo Võ Trọng H nộp phạt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) lưỡi dao còn nguyên trong gói; 03 (ba) cuộn chỉ chưa qua sử dụng; 03 (ba) ống xi xanh (vỏ ống tiêm) đã qua sử dụng; 03 (ba) ống xi xanh (vỏ ống tiêm) chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy, bên trong có 10 (mười) ống tiêm đã qua sử dụng; 04 (bốn) găng tay phẫu thuật chưa qua sử dụng; 07 (bảy) ống thủy tinh màu nâu, có ghi chữ Fatig, bên trong có chứa chất lỏng; 25(hai mươi lăm) ống tiêm chưa qua sử dụng; 25 (hai mươi lăm) lọ nhựa trắng nắp đỏ chưa qua sử dụng; 01 (một) dụng cụ đo huyết áp đã qua sử dụng; 01 (một) ống xi lanh chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp sống mũi giả bằng nhựa chưa qua sử dụng; 06 (sáu) gạc phẫu thuật màu hồng chưa qua sử dụng; 50 (năm mươi) kim lăn chưa qua sử dụng; 01 (một) bịch bông băng chưa qua sử dụng; 01 (một) túi thuốc màu xanh bằng vải, bên trong có nhiều loại thuốc tây; 100 (một trăm) ống nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) tủ diệt khuẩn.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại ông Ôn Kim Quốc B 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen.

Giao 14 (mười bốn) hồ sơ chụp X-Quang cho Công an Q2 giữ để điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định pháp luật.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 01 năm 2023 giữa Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minhồ Chí Minh - bút lục 251)

Đối với số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng mà ông Lại Hoàng V đề nghị ông Nguyễn Văn D giao lại cho ông, thì ông V có quyền khởi kiện yêu cầu ông D hoàn trả lại trong một vụ án dân sự khác, nếu sau này ông V có Đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Võ Trọng H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Võ Trọng H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại Lại Thị Thắng H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

- Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Võ Trọng H.

Cỡ chữ