vanban.org

Bản án 75/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 31/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về khám

bệnh, chữa bệnh”. 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nông Văn H 18 (mười tám) tháng tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về khám
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2019/HS-ST
Ngày 31-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mã Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Duy Tuân.

Bà Hoàng Phương Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Anh, Thư ký Toà án nhân dân

tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nguyệt, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2019/TLST-HS ngày

02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

656/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Nông Văn H, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1967 tại xã P, huyện K, tỉnh Cao

Bằng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Cao

Bằng; nghề nghiệp: bác sỹ; trình độ văn hoá: lớp 10/10 phổ thông; dân tộc: Tày;

giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, Đoàn thể: Đảng

viên; con ông Nông Văn R (Liệt sỹ hy sinh năm 1969) và bà Nông Thị Ng, sinh

năm 1940; có vợ là Nông Thị L, sinh năm 1968 và 02 con; tiền án, tiền sự:

không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-10-2019

đến nay; có mặt.

- Bị hại: Hoàng Thị Nh, sinh năm 1988, nơi cư trú: Xóm R, xã Đ, huyện

K, tỉnh Cao Bằng - đã chết.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1988, nơi cư trú: Xóm R, xã Đ, huyện K,

tỉnh Cao Bằng (chồng bị hại); có mặt.

2. Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1962, nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện K,

tỉnh Cao Bằng; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng, người đại diện theo pháp luật:

Ông Nguyễn Văn B; chức vụ: Giám đốc; có mặt.

2. Phương Văn T, sinh năm 1962, nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

3. Hoàng Tùng S, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ A, thị trấn K, huyện K,

tỉnh Cao Bằng; có mặt.

4. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976, nơi cư trú: Xóm L, thị trấn K, huyện

K, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

5. Lục Văn T2, sinh năm 1967, nơi cư trú: Xóm C1, xã C2, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

6. Hoàng Hà G, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; vắng mặt.

7. Nông Thị H1, sinh năm 1969, nơi cư trú: Xóm B, xã M, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

8. Hoàng Văn D, sinh năm 1965, nơi cư trú: Xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ngân Thị Đ, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tổ A, thị trấn K, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

2. La Thị L1, sinh năm 1965, nơi cư trú: Tổ A1, thị trấn K, huyện K, tỉnh

Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 năm 2019, anh Hoàng Văn N,

sinh năm 1988, cư trú tại xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng thấy vợ là Hoàng Thị Nh, sinh năm 1988 có biểu hiện đau đẻ và đau ra vết mổ nên đưa vợ đến Trung tâm Y tế huyện K làm thủ tục nhập viện. Vì con đầu đã mổ nên lần này sau hội chẩn các bác sỹ vẫn chỉ định phải mổ lấy thai nhi. Tham gia ca mổ có bác sỹ Phương Văn T (phẫu thuật chính), bác sỹ Hoàng Tùng S, Hoàng Hà G (phụ mổ), bác sỹ Nông Văn H (gây tê, hồi sức), kỹ thuật viên Lục Văn T2 (phụ gây mê), điều dưỡng Nguyễn Thị T1 (dụng cụ), hộ sinh Nông Thị H1, hộ lý La Thị L1. Trước khi tiến hành mổ, sản phụ Hoàng Thị Nh đã được khám, xét nghiệm và xác định sức khỏe của sản phụ bình thường, tỉnh táo.

Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 17-3-2019, sản phụ Hoàng Thị Nh tự

bước vào phòng mổ theo các bác sỹ và lên bàn mổ. Bác sỹ Nông Văn H lấy khoảng 7mg Marcain 0,5% và 0,03mg Fentanyn (thuốc gây tê tủy sống) tiêm vào đốt L2, L3 của sản phụ Nh. Sau khi tiêm thuốc gây tê được khoảng 5 phút, bác sỹ Phương Văn T kẹp phẫu tích vào da bụng sản phụ chuẩn bị tiến hành mổ thì Hoàng Thị Nh kêu đau và nói: “Có nước chảy ra ở hậu môn và âm đạo xót lắm”, bác sỹ T dừng thao tác mổ do thấy thuốc gây tê chưa tác dụng, đồng thời

nghe tiếng máy MOINITOR (máy đo chỉ số sinh tồn của bệnh nhân) kêu “tít, tít”

liên tục, bệnh nhân có biểu hiện khó thở, huyết áp không ổn định, mạch đập

nhanh, người tím tái, co giật mạnh. Thấy vậy, bác sỹ Nông Văn H tiến hành sơ

cứu bệnh nhân bằng cách đặt mặt nạ bóp bóng đưa khí vào phổi nhưng không

hiệu quả, rồi tiếp tục đặt ống nội khí quản bóp bóng đưa khí vào phổi nhưng

không được, bệnh nhân Hoàng Thị Nh tim ngừng đập, các chỉ số sinh tồn hiển

thị trên máy đều về “0”.

Sau khi sản phụ Hoàng Thị Nh chết, bác sỹ Phương Văn T đã thông báo

cho gia đình nạn nhân biết và hỏi ý kiến mổ để lấy thai nhi trong bụng mẹ. Được

gia đình đồng ý, bác sỹ T đã trực tiếp mổ lấy thai nhi ra thấy tim còn đập nhưng

yếu nên cũng tiến hành cấp cứu bằng cách bóp bóng, hút nhớt, dịch ở mũi, ép

tim được khoảng 30 phút sau thì trẻ sơ sinh chết.

Thấy cái chết của Hoàng Thị Nh không rõ ràng nên ngày 17-3-2019 gia

đình bệnh nhân đã gửi đơn đến cơ quan chức năng đề nghị điều tra làm rõ

nguyên nhân dẫn đến cái chết của Hoàng Thị Nh. Nhận được tin báo, cơ quan

chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy

định. Quá trình khám nghiệm đã thu giữ được 02 lọ thủy tinh được cuộn băng

dính đã bị khuyết phần đầu, trong đó 01 lọ nhãn hiệu Bupivacainewp, trong lọ

còn khoảng 1/3 dung dịch; 01 lọ nhãn hiệu Fentanyn trong lọ còn khoảng ½

dung dịch; 01 ống thủy tinh màu xanh nhãn hiệu Adrenalin, bên trong dung dịch

trong suốt còn nguyên thu trong tủ thuốc của phòng mổ; thu giữ một phần nội

tạng của nạn nhân Hoàng Thị Nh và trẻ sơ sinh trưng cầu giám định phục vụ

công tác điều tra.

Ngày 17-3-2019, ngày 19-3-2019 và ngày 21-3-2019, Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 40,

40a, 40b, 41, 41a trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng và Viện pháp y

Quốc gia giám định nguyên nhân chết của Hoàng Thị Nh và trẻ sơ sinh, đồng

thời trưng cầu giám định mô bệnh học, độc tố trong phủ tạng của Hoàng Thị Nh

và tử thi trẻ sơ sinh.

Tại Bản kết luận giám định hóa pháp số: 184/145/182-183/19/HP ngày

29-3-2019 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận:

“Trong các mẫu tang vật ký hiệu M1 và M2 do CQĐT Công an tỉnh Cao

Bằng gửi tới giám định ngày 20/3/2019 có tìm thấy Bupivacain.

Trong các mẫu tang vật ký hiệu M3 và M4 do Cơ quan CSĐT Công an

tỉnh Cao Bằng gửi tới giám định ngày 20/3/2019 có tìm thấy Fentanyl.

Trong mẫu tang vật ký hiệu M5 do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao

Bằng gửi tới giám định ngày 20/3/2019 có tìm thấy Adrenalin;

Trong mẫu phủ tạng, máu của nạn nhân Hoàng Thị Nh, sinh năm 1988 do

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng gửi tới giám định ngày 20/3/2019 không

tìm thấy Bupivacain; Fentanyl; Adrenalin;

Trong mẫu phủ tạng, máu của nạn nhân Hoàng Thị Nh, sinh năm 1988 và

các mẫu tang vật do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cao Bằng gửi tới giám định ngày 20/3/2019 không tìm thấy các chất độc nêu trên”.

Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số 1519, 1519A/C09-TT1 ngày

08-5-2019 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận đối với Hoàng Thị Nh là: “Các tạng xung huyết rất mạnh, thoái hóa tế bào”; đối với trẻ sơ sinh con của Hoàng Thị Nh là: “Hình ảnh nhu mô phổi tổn thương ngạt ối”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 015/19/TT và số:

016/19/TT ngày 23-5-2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng kết luận nguyên nhân chết của Hoàng Thị Nh là: “Phù phổi cấp do tai biến tiêm thuốc gây tê tủy sống”; nguyên nhân chết của trẻ sơ sinh con của Hoàng Thị Nh là do: “Ngạt ối”.

Tại phiên toà, bị cáo Nông Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

như đã nêu ở trên.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là Hoàng Văn N trình bày: Trước khi

vào phòng mổ, Hoàng Thị Nh đã được kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm, xác định sức khỏe bình thường, Nh tự bước vào phòng mổ theo bác sỹ. Khoảng một tiếng sau, bác sỹ T ra báo tin cho gia đình Nh đã tử vong. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý hành vi làm chết người và buộc người có lỗi phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Hoàng Thị N1 có cùng ý kiến như anh N, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia kíp

mổ trình bày: Sau khi tiêm thuốc gây tê tủy sống cho Hoàng Thị Nh được khoảng 05 phút thì sản phụ bị tụt huyết áp, mạch không ổn định, co giật nên kíp mổ đã tiến hành cấp cứu bằng cách đặt mặt nạ bóp bóng, đặt ống nội khí quản bóp bóng đưa khí vào phổi. Khi điều dưỡng Nguyễn Thị T1 lấy thuốc Adrenalin ra bẻ nhưng chưa kịp tiêm thì sản phụ đã tử vong. Việc không tiêm Adrenalin kịp thời là do kíp mổ chưa gặp tình huống như vậy bao giờ nên nhầm tưởng nạn nhân bị tụt huyết áp, do tụt huyết áp có các dấu hiệu giống với sốc phản vệ.

Ngày 30-11-2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ra Cáo trạng

số: 66/CT-VKSCB-P2 truy tố Nông Văn H về tội “Vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 1 Điều 315 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận

tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nông Văn H về tội “Vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 315; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nông Văn H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 591 và 597 của Bộ

luật Dân sự buộc Trung tâm Y tế huyện K phải bồi thường thiệt hại cho gia đình

bị hại.

Về án phí: Bị cáo và Trung tâm y tế huyện K phải chịu án phí theo quy

định của pháp luật.

Bị cáo Nông Văn H không có lời bào chữa, trong lời nói sau cùng bị cáo

không có ý kiến.

Người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm

sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố

và tại phiên toà, bị cáo Nông Văn H và những người tham gia tố tụng khác

không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết

định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện

đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Nông Văn H hoàn toàn phù

hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án và có

đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 17-3-2019, Nông Văn H tiêm

thuốc gây tê tủy sống cho sản phụ Hoàng Thị Nh để tiến hành mổ lấy thai nhi.

Sau khi tiêm thuốc, Hoàng Thị Nh bị tai biến tiêm thuốc nhưng H cùng kíp mổ

không chẩn đoán phản vệ để xử trí cấp cứu phản vệ đúng phác đồ theo hướng

dẫn của Bộ Y tế, không tiêm thuốc Adrenalin kịp thời làm sản phụ Nh bị chết,

sau đó thai nhi cũng bị chết do ngạt ối.

Hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh của bị cáo Nông Văn

H đã xâm phạm vào an toàn khám bệnh, chữa bệnh gây ảnh hưởng xấu đến lòng

tin của nhân dân vào cơ sở khám chữa bệnh, nơi chăm sóc và nâng cao sức khỏe

nhân dân ở địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng

lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý, nguyên nhân phạm tội do trong

quá trình công tác bị cáo chưa gặp các tình huống tương tự nên chẩn đoán và xử

lý cấp cứu phản vệ không đúng phác đồ hướng dẫn. Hành vi phạm tội của bị cáo

H đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Vi phạm quy định về khám bệnh,

chữa bệnh” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 315 của Bộ luật Hình sự với

tình tiết định khung “Làm chết người”. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát

nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn H về tội “Vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 1 Điều 315 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nông Văn H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có 04 tình tiết giảm nhẹ, đó là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội là con liệt sỹ; Sau nhiều lần gặp gỡ gia đình bị hại để thỏa thuận bồi thường nhưng không được gia đình bị hại chấp nhận, bị cáo đã tự nguyện nộp 100.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh để thực hiện việc bồi thường; bị cáo có nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Kỷ niệm chương "Vì sức khỏe nhân dân". Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo H có đủ các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và không thuộc các trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết này nên không buộc bị cáo phải cách ly xã hội và quyết định hình phạt thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 315 quy định: “Người phạm tội

còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nông Văn H đã xâm phạm đến tính mạng

của Hoàng Thị Nh. Tuy nhiên, H làm chết Hoàng Thị Nh trong khi thực hiện nhiệm vụ được Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng giao nên theo quy định tại Điều 597 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng phải bồi thường thiệt hại. Sau khi đã bồi thường thiệt hại, Trung tâm y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật, cụ thể số tiền phải bồi thường là:

+ Các chi phí hợp lý cho việc mai táng Hoàng Thị Nh: 35.000.000 đồng;

+ Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần đối với cái chết của Hoàng Thị Nh:

100 tháng lương cơ bản x 1.490.000 đồng/1 tháng = 149.000.000 đồng. Số tiền này được bồi thường cho Hoàng Văn N (chồng nạn nhân) 1/2 bằng 74.500.000 và bồi thường cho Hoàng Thị N1 (mẹ đẻ nạn nhân) 1/2 bằng 74.500.000 đồng.

+ Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần đối với cái chết của trẻ sơ sinh là con

Nh: 30.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền bồi thường do tính mạng bị xâm phạm cho Hoàng Văn

N là 139.500.000 đồng.

Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho Hoàng Thị N1 là 74.500.000 đồng.

Ngoài số tiền bồi thường nêu trên, Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng còn

có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bị hại là Hoàng Văn Ch, sinh ngày 28-01-

2015, mỗi tháng 1.200.000 đồng, kể từ ngày 01-4-2019 đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Do bên có nghĩa vụ cấp dưỡng là pháp nhân nên kể từ thời điểm thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng cho đến khi cháu Ch đủ 18 tuổi, cơ cấu tổ chức của pháp nhân có

thể thay đổi làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được cấp

dưỡng. Do vậy, cần buộc bên phải cấp dưỡng thực hiện cấp dưỡng một lần cho

người được cấp dưỡng, cụ thể số tiền phải cấp dưỡng là:

Từ ngày 01-4-2019 (thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng) đến ngày

28-01-2033 (thời điểm cháu Ch đủ 18 tuổi) là 13 năm 05 tháng, tương đương

161 tháng x 1.200.000 đồng/1 tháng = 193.200.000 đồng.

Tổng số tiền phải cấp dưỡng một lần cho đến khi cháu Hoàng Văn Ch đến

khi đủ 18 tuổi là: 193.200.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Nông Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định của pháp luật. Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng phải chịu án phí

dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền họ phải bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về khám

bệnh, chữa bệnh”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 315; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều

51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nông Văn H 18 (mười tám) tháng tù

nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ

ngày tuyên án là ngày 31-12-2019. Giao bị cáo Nông Văn H cho Uỷ ban nhân

dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử

thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo

phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào các Điều 584; 585; 591 và Điều 597 của Bộ luật Dân sự.

Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng phải có trách nhiệm bồi thường

thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là

anh Hoàng Văn N, sinh năm 1988, nơi cư trú: Xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao

Bằng với số tiền phải bồi thường là: 139.500.000 đồng.

Bồi thường tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người đại diện hợp pháp

của bị hại là bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1962, nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện

K, tỉnh Cao Bằng với số tiền phải bồi thường là 74.500.000 đồng.

Ngoài nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, Trung

tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng còn có nghĩa vụ cấp dưỡng một lần cho con của bị hại là Hoàng Văn Ch, sinh ngày 28-01-2015 (do anh Hoàng Văn N là người đại diện) mỗi tháng 1.200.000 đồng từ 01-4-2019 đến khi cháu đủ 18 tuổi với tổng số tiền là: 193.200.000 đồng.

Tổng số tiền phải bồi thường cho anh Hoàng Văn N là: 139.500.000 đồng

+ 193.200.000 đồng = 332.700.000 đồng.

Số tiền phải bồi thường cho bà Hoàng Thị N1 là 74.500.000 đồng.

Sau khi đã bồi thường thiệt hại, Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng

có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Xác nhận Nông Văn H đã nộp 100.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân

sự tỉnh Cao Bằng tại Biên lai thu tiền số: AA/2016/0000302 ngày 15-11-2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều

23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nông Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

nộp ngân sách Nhà nước.

Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Cao Bằng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

có giá ngạch đối với khoản tiền phải bồi thường là 20.288.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nông Văn H, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Hoàng

Văn N, bà Hoàng Thị N1 có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại

phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên

tòa có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa

vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ