vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/11/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Văn T tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 16/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Danh Tuất.

Bà La Thị Thu Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa:

Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2023/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1995 tại Đồng Tháp;

Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1968; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không

Bị bắt, tạm giam ngày: 22/11/2022.

“Bị cáo có mặt”.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm: 1988 “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Tổ A, Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nơi ở hiện nay: Tổ F, ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Ông Bùi Văn C, sinh năm: 1995 “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bà Trần Thị L, sinh năm: 1990 “Vắng mặt”.

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 22 tháng 11 năm 2022, lực lượng Công an huyện X phối hợp cùng Công an thị trấn P, huyện X, tuần tra trên địa bàn khi đến đường H, khu phố X, thị trấn P, huyện X phát hiện Trần Văn T, sinh năm 1995, HKTT: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp điều khiển xe mô tô biển số 72N1 - 4377 có biểu hiện nghi vấn, nên lực lượng chức năng yêu cầu T có cất giấu ma tuý thì mang ra giao nộp, T tự nguyện lấy trong người ra 01 túi da màu đen, bên trong có 16 gói ny lon, lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản, niêm phong số tang vật trên và mời T về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, T khai nhận 16 gói nylon được hàn kín, có chứa chất kết tinh, không màu - trong suốt là ma tuý đá, T mua của một người tên H1 (không rõ nhân thân) vào ngày 21/11/2022 với giá 1.000.000 đồng, tại chợ C1, xã P, huyện X mục đích T cất giấu ma tuý để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 487/KL-KTHS-MT ngày 01 tháng 12 năm2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh, không màu – trong suốt chứa trong 16 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu vàng, gửi đến giám định có tổng khối lượng 2,8919 gam, là mà tuý, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Đối với 01 phong bì màu trắng được niêm phongvụ số 487 ngày 01 tháng 12 năm 2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giámđịnh; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu bạc, bên trong có sim sốxxxxxxxxxx; 01 túi da nhỏ màu đen không nhãn hiệu, 01 xe mô tô biển số 72N1-4377, hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X đang tạm giữ để chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện X chờ xử lý.

Đối với 01 xe mô tô biển số 72N1- 4377, qua xác minh cho thấy bà Phạm Thị Thanh T1, địa chỉ khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mua vào năm 2008, bà T1 sử dụng đến khoảng năm 2021 thì bán lại cho cửa hàng xe máy cũ “Thành H”. Làm việc với anh Bùi Văn C, sinh năm, 1995, HKTT: khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (là chủ cửa hàng xe máy cũ Thành H) anh C cho biết đã mua lại chiếc xe trên của một người phụ nữ tên T1 (không rõ nhân thân) với giá 4.000.000 đồng, khi mua xe không làm giấy tờ mua bán. Đến tháng 8/2022, anh C bán lại chiếc xe trên cho chị Trần Thị L với giá 8.000.000 đồng và chỉ viết giấy tay mua bán với chị L. Làm việc với chị Trần Thị L, sinh năm 1990, chỗ ở ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã khai nhận ngày 22/11/ 2022, Trần Văn T sử dụng xe mô tô của chị Trần Thị L, chị L không biết T sử dụng vào việc phạm tội, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X đang tạm giữ để chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện X chờ xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.

Bản cáo trạng số 43/CT - VKS - XM ngày 16 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo từ 20 (Hai mươi) tháng tù đến 26 (Hai mươi sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng Viện kiểm sát đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu vàng được niêm phong vụ số 487 ngày 01/12/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định;

- 01 túi da nhỏ màu đen không nhãn hiệu;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A 16, màu bạc và 01 sim điện thoại số: xxxxxxxxxx

Trả lại cho bà Trần Thị L:

- 01 xe mô tô biển số 72N1- 4377, số khung RLCS5C6408Y027976, số máy: 5C64927976.

Bị cáo Trần Văn T nói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:

Bị cáo Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể: Vào khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 22/11/2022, tại địa phận đường H, thị trấn P, huyện X, Công an tuần tra bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ 16 gói nylon được hàn kín, có chứa chất kết tinh, không màu – trong suốt là ma túy đá, mục đích bị cáo cất giấu ma túy là để sử dụng.

Theo kết luận giám định số 487/KL - KTHS - MT ngày 01/12/2022 của Phòng K Công an tỉnh B thì: Mẫu A gửi giám định có khối lượng 2,8918 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của bị cáo nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó, cho thấy bản cáo trạng số 43/CT - VKS - XM ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Trần Văn T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo vẫn tàng trữ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân là phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cần cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích thu lợi bất chính, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) phong bì màu vàng được niêm phong vụ số 487 ngày 01/12/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là tang vật của vụ án là hàng cấm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu bạc và 01 sim điện thoại số: xxxxxxxxxx là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01 túi da nhỏ màu đen không nhãn hiệu là phương tiện, công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 72N1- 4377, số khung RLCS5C6408Y027976, số máy: 5C64927976, số máy: 5C64927976 qua xác minh cho thấy bà Phạm Thị Thanh T1 mua vào năm 2008, bà T1 sử dụng đến khoảng năm 2021 thì bán lại cho cửa hàng xe máy cũ “Thành H”. Làm việc với ông Bùi Văn C (là chủ cửa hàng xe máy cũ Thành H) ông C cho biết đã mua lại chiếc xe trên của một người phụ nữ tên T1 (không rõ nhân thân) với giá 4.000.000 đồng, khi mua xe không làm giấy tờ mua bán. Đến tháng 8/2022, ông C bán lại chiếc xe trên cho bà Trần Thị L với giá 8.000.000 đồng và chỉ viết giấ tay mua bán với bà L. Làm việc với bà Trần Thị L đã khai nhận ngày 22/12/2022, bị cáo sử dụng xe mô tô của bà L, bà L không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra người đứng tên trên giấy đăng ký xe là bà T1, cũng như người bán xe cho bà L là ông C không có yêu cầu gì đối với chiếc xe mô tô trên nên xét trả xe mô tô trên cho bà L.

Đối với nguồn gốc ma túy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai mua ma túy của người tên H1, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bà Trần Thị L là chủ xe mô tô biển số 72N1- 4377, việc bị cáo mượn xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội, bà L không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà L là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu vàng được niêm phong vụ số 487 ngày 01/12/2022, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định;

- 01 túi da nhỏ màu đen không nhãn hiệu;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu bạc và 01 sim điện thoại số: xxxxxxxxxx.

Trả lại cho bà Trần Thị L:

- 01 xe mô tô biển số 72N1- 4377, số khung RLCS5C6408Y027976, số máy: 5C64927976.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2023 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ