vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lương Thế G 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 24/3/2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy mảnh bao nilon màu đen, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì thư dán kín theo quy định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thế G - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lương Thế G 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 24/3/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 24 – 7 – 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Phan Thị Duệ.

2/ Bà Lang Thị Hồng Vy.

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST – HS ngày 15 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣơng Thế G, tên gọi khác: Không; sinh năm: 2001 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản KB, xã CH, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc S và bà Vi Thị Bích H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện QC, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HSST ngày 02/6/2022, chấp hành án phạt tù xong ngày 19/01/2023 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, Lương Thế G đi bộ một mình tại khu vực cầu ĐM thuộc bản ĐM, xã CH, huyện QC, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Công an xã CH, huyện QC yêu cầu kiểm tra hành chính, trong lúc kiểm tra G tự nguyện lấy trong miệng mình ra giao nộp 01 gói nhỏ được bọc bằng 02 lớp, lớp bên ngoài bọc bằng bao nilon màu đen, bên trong bọc bằng mảnh giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy), tổ công tác

1

đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang, niêm phong vật chứng bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu điều tra theo quy định, quá trình điều tra Giang khai nhận sự việc như sau:

Do nghiện chất ma túy nên vào trưa ngày 24/3/2023 G đi bộ một mình từ nhà đến khu vực thị trấn TL, huyện QC để tìm mua ma túy sử dụng, khi đến cổng nhà Lê Thanh H, trú tại khối B, thị trấn TL, huyện QC thì G gọi H hỏi mua ma túy với số tiền là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), sau khi mua được ma túy G ngậm gói ma túy vừa mua được vào miệng và đi về để sử dụng, trên đường về đến khu vực cầu ĐM thì bị Công an xã CH kiểm tra hành chính bắt quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 24/3/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xác định: Bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bên ngoài bằng mảnh bao nilon màu đen, lớp thứ hai là mảnh giấy màu trắng (nghi là ma túy). Sau khi loại bỏ bao gói, cân trọng lượng số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam) cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu đen, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.

Kết luận giám định số: 376/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lương Thế G gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất rắn màu trắng (01 gói) thu giữ của Lương Thế G có khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam).”

Bản cáo trạng số: 47/CT-VKS-QC ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lương Thế G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Thế G từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vỏ, bao gói được niêm phong theo quy định.

- Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức khung hình phạt hoàn toàn nhất trí theo như truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến các yếu tố bị cáo phạm

2

tội không nhằm mục đích vụ lợi, mà chỉ nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, số lượng ma túy thu giữ của bị cáo ít, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà nội là người có công với Nhà nước. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo ở mức đầu khung hình phạt 01 năm tù là hợp lý. Ngoài ra đề nghị xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến bổ sung thêm vào lời bào chữa. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24/3/2023 tại khu vực cầu ĐM thuộc bản ĐM, xã CH, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an xã CH kiểm tra hành chính, bắt quả tang bị cáo Lương Thế G có hành vi tàng trữ 01 (Một) gói ma túy (Heroine) được bọc bên ngoài bằng mảnh bao nilon màu đen, lớp thứ hai gói bằng mảnh giấy màu trắng, có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,04g (Không phẩy không bốn gam), với mục đích nhằm để sử dụng, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng dưới 0,1g (Không phẩy một gam) tuy nhiên bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.

3

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, trong thời gian chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo tuy dưới 0,1g (Không phẩy một gam), nhưng bị cáo đang có tiền án nên bị truy tố, xét xử là đúng quy định. Bản thân bị cáo biết rõ và nhận thức được tác hại của chất ma túy, đã từng bị xử phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, từ bỏ tệ nạn ma túy mà vẫn cố ý phạm tội để thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm phù hợp với mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bà nội là người nuôi dưỡng bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến, đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo đang bị tạm giam, là lao động tự do, đang sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành lấy lời khai, cho đối chất giữa bị cáo và Lê Thanh H, tuy nhiên H không thừa nhận mình là người bán ma túy cho bị cáo vào ngày 24/3/2023, ngoài lời khai nhận của bị cáo không có người làm chứng hay căn cứ khách quan khác để chứng minh có sự việc bị cáo mua ma túy với Lê Thanh H nên không có cơ sở để điều tra, truy tố và xử lý Hải theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Khối lượng ma túy Heroine 0,04g (không phẩy không bốn gam) thu giữ của bị cáo đã sử dụng giám định hết, vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu đen, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao gói, phong bì niêm phong là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Thế G 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 24/3/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mảnh bao nilon màu đen, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì thư dán kín theo quy định.

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 12/6/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lương Thế G chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ