vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt ngày 28/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bích L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
–––––––––––––––
Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày 27-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bích L, sinh ngày 28/8/2000 tại xã LA, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp HT, xã LA, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ D; anh em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2004); có 01 con sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; Bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

1. Ông Võ Văn H, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TB, xã TL, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

2. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TB, xã TL, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 28/3/2023 bị cáo Nguyễn Thị Bích L đang đi công việc ở ấp Phước Thới, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thì có một người bạn có tên K (không xác định được họ tên, địa chỉ) gọi điện thoại rủ L đi mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh (không rõ biển số) đến rước L và chở L đi đến một quán cà phê (không xác định được tên quán, địa chỉ) ở khu vực Cầu Mới, thuộc huyện Tam Bình, để mua chất ma túy. Khi đến địa điểm L và K đậu xe mô tô ở ngoài và đi bộ vào bên trong quán cà phê, cả hai gặp một người phụ nữ (không xác định được họ tên, địa chỉ), K hỏi mua lượng ma túy đá với giá 400.000 đồng, người phụ nữ này đồng ý. Sau khi nhận đủ số tiền 400.000 đồng thì người phụ nữ này trực tiếp đưa cho L 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy đá được để ở bên trong cái khẩu trang y tế màu xám rồi đi vào bên trong quán. L nhận lấy bằng tay phải sau đó đưa lại cho K, K cầm trong lòng bàn trái cất giấu và điều khiển xe mô tô chở L đi tìm nhà trọ để sử dụng trái phép chất ma túy. Trên đường đi K đưa lại cho L cái khẩu trang y tế bên trong có cất giấu bịch ma túy và L cất giấu bên trong túi áo khoác màu đen phía trước bên trái.

Đến khoảng 15 giờ 35 phút cùng ngày, K chở L đến Nhà trọ “Văn Thanh” thuộc: ấp Thanh Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít. K kêu L đi vào thuê phòng trọ trước còn K đi mua thẻ cào điện thoại rồi quay lại. Sau đó L đi bộ vào bên trong Nhà trọ. Khi L đi vào đến trước cửa phòng trọ số 02 của Nhà trọ “Văn Thanh” thì bị lực lượng Công an huyện Mang Thít kết hợp Công an xã Tân Long đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy đá được để ở bên trong cái khẩu trang y tế màu xám được lực lượng Công an tìm thấy ở bên trong túi áo khoác màu đen phía trước bên trái của L đang mặc, được lực lượng Công an niêm phong vào bao thư để giám định. Còn đối tượng K khi phát hiện L bị bắt quả tang nên đã tẩu thoát.

Tại Kết luận giám định số: 202/KL-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận như sau: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong bao thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1636 gam, loại: Methamphetamine.

Ngày 31/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Thị Bích L, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Bích L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng của vụ án:

- Chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1099 gam có liên quan trực tiếp trong vụ án, tiếp tục tạm giữ để xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng có số Seri: R51G217YYLL bên trong có gắn thẻ sim có số điện thoại 0776.206.737. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản của Nguyễn Thị Bích L. Đây là phương tiện dùng liên hệ để mua ma túy về sử dụng nên tiếp tục tạm giữ để xử lý.

- Đối với người tên K (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đã mua ma túy đưa cho bị cáo L và đối tượng nữ (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) đã bán ma túy cho K về sử dụng. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được tiến hành xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS.HMT, ngày 23/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bích L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1099 gam.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng có số Seri: R51G217YYLL bên trong có gắn thẻ sim có số điện thoại 0776.206.737

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mang Thít, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1636 gam, loại: Methamphetamine. Hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích L về tội danh và điều luật áp dụng như trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, người sử dụng sẽ bị kích thích, ức chế thần kinh, gây hoang tưởng hoặc gây ảo giác. Chất ma túy vẫn đang còn là một vấn đề nhức nhối của xã hội, ma túy đã và đang hủy hoại sức khỏe, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1099 gam.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng có số Seri: R51G217YYLL bên trong có gắn thẻ sim có số điện thoại 0776.206.737, bị cáo sử dụng liên hệ để mua ma túy về sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt ngày 28/3/2023.

- Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định còn lại có khối lượng 0,1099 gam.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng có số Seri: R51G217YYLL bên trong có gắn thẻ sim có số điện thoại 0776.206.737.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/6/2023)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ