- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS - ST Ngày: 20/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Phong.
2/ Ông Nguyễn Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/TLST-HS ngày 06/9/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn L; Sinh năm: 1967, tại tỉnh Ninh Bình;
Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện K, tỉnh Đ;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Văn V và con bà Trần Thị N (đều đã chết); Vợ là: Phan Thị D, sinh năm 1988 (không đăng ký kết hôn) hiện nay không xác minh được nhân thân lai lịch); Con: có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 02/6/2023 cho đến nay. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn L là đối tượng nghiện ma túy, đã nhiều lần đến khu vực thôn T, xã C, huyện K để mua ma túy sử dụng.
Do đó, khoảng 10 giờ ngày 02/6/2023, Mai Văn L đi bộ từ bãi đá thuộc thôn C ra đường đón xe máy người đi đường đến thôn T, xã C, mục đích là để mua ma túy. Tại đây L gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, tóc ngắn, da đen hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng thì người đàn ông này đồng ý bán và đưa cho L 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy. L cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ về bãi đá. Khi đi được khoảng 500m thì bị lực lượng Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại túi áo khoác bên trái L đang mặc trên người 03 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa ma túy, loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số: 697/KL-KTHS ngày 08/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong giám định là Ma túy, có khối lượng 0,2815 gam, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Mai Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Mai Văn L từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,2404 gam Heroine hoàn lại sau giám định và toàn bộ gói đựng mẫu vật trong 01 phong bì.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận, bào chữa gì, chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án, theo tài liệu thu thập được, lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2023, tại thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng phát hiện bắt quả tang Mai Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2815 gam, loại Heroine.
Như vậy hành vi của bị cáo Mai Văn L đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Điểm c khoản 1 điểm Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine …………….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo nhận thức được hêrôin là chất ma túy gây nghiện làm hủy hoại đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn thỏa mãn cơn nghiện nên vào ngày 02/6/2023, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,2815 gam, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, thể hiện thái độ, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với quan điểm của VKS nhân dân huyện Krông Năng về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,2404 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
Đối với hành vi của người đàn ông khoảng 45 tuổi, cao khoảng 1m67, tóc ngắn, da đen bán ma túy cho bị cáo, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS:
Xử phạt bị cáo Mai Văn L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 02/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,2404 gam Heroine hoàn lại sau giám định và toàn bộ gói đựng mẫu vật trong 01 phong bì.
(Đặc điểm như biên bản giao nhận ngày 05/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Mai Văn L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPCQ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |