vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: A Què) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T (A Què) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày 27 tháng 02 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: A Què) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày 16-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hải;

2. Ông Lê Văn Rẽn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trường Trung học cơ sở xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: A Què), sinh ngày 16/5/2001 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố X, thị trấn Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc N (chết) và bà Lê Thị Mỹ L; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 27/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 30/4/2022; tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 29/11/2018 bị Công an thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 07/01/2019 bị Công an thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu xử vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 07/3/2019 bị Công an thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 06/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, ngày 16/11/2020 chấp hành xong; ngày 07/3/2021 bị Công an xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt xong ngày 08/3/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2023 cho đến nay. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/02/2023, tại khu vực cầu Gò Suối thuộc ấp M, xã N, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã N bắt quả tang Nguyễn Ngọc T đang cất giấu 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chứng để làm rõ.

Qua điều tra, T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, Nguyễn Ngọc T đi bộ từ nhà thuộc khu phố X, thị trấn Y, huyện Bến Cầu đến khu vực cầu Gò Suối thuộc ấp M, xã M, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, T gặp một người đàn ông tên Tươi (không rõ lai lịch), người này đưa cho T 01 bịch ma túy đá. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang cầm bịch ma túy đá tìm nơi để sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Kết luận giám định số 318/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6222 gam.

Ngày 27/02/2023, kiểm tra nồng độ chất ma túy đối với Nguyễn Ngọc T, cho kết quả dương T với chất ma túy (Methamphetamine).

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/02/2023: Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy).

- Khám xét nhà Nguyễn Ngọc T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Nguyễn Ngọc T không có tài sản nên không kê biên.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKSBC ngày 18 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo T thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Nguyễn Ngọc T mua 01 bịch ma túy đá của người đàn ông tên Tươi (không rõ lai lịch) tại khu vực Gò Suối thuộc ấp M, xã N, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang tại khu vực Gò Suối. Tại kết luận giám định số: 318/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6222 gam.

Lời khai của bị cáo T phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang T chất nghiêm trọng. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo biết việc sử dụng, tàng trữ trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không tuân thủ. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm băng hoại giống nòi và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với T chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: một lần bị xử lý hình sự, chưa được xóa án tích; ba lần bị xử phạt vi phạm hành chính, một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại địa phương và một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính áp dụng biện pháp đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc, đã được xóa tiền sự nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học nên cần xem xét khi lượng hình.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có tiền án và bản thân là người thường xuyên sử dụng ma túy. Do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Tươi bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, do không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo T tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bịch nylon trong suốt, hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M). Tại kết luận giám định số: 318/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu kí hiệu M gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6222 gam, hoàn lại sau khi giám định là 0,5602 gam và được niêm phong trong 01 (một) gói ký hiệu vụ số 318. Do là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác: A Què) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T (A Què) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày 27 tháng 02 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong vụ số 318.

(theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ