vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Quang Minh Th phạm tội “Tàng trữ trái phépchất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Th tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BB
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 06-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB-TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Th

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Bích L

2. Ông Bá Đình T

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo V- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Mỹ T- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BB xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 15/5/2023, đối với bị cáo: H và tên: Quang Minh Th, sinh ngày 24/11/2000 tại tỉnh BTh; Nơi cư trú: Thôn Tịnh My, xã PT, huyện BB, tỉnh BTh; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Bà La Môn; con ông Quang Quốc H, sinh năm 1975 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam: Ngày 07/11/2022; có mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Bình L, xã Th, huyện BB, tỉnh BTh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 07/11/2022, Công an xã Th tuần tra khu vực phát hiện Quang Minh Th, sinh năm 2000 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi thấy lực lượng kiểm tra, Quang Minh Th móc trong túi áo ra 1 cái ví da màu đen và một điện thoại di động màu đen ném xuống đường, lực lượng phát hiện, thu giữ 01 ví da; kiểm tra trong ngăn ví có 01 bịch nhựa màu trắng hàn kín, kích thước (1,5 x 1,7)cm, bên trong bịch nhựa có chứa tinh thể màu trắng, Quang Minh Th khai nhận là ma túy của Th mua 200.000 đồng của người tên Bóng Đ n d ng để sử dụng.

Lực lượng kiểm tra đưa Quang Minh Th về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang, vật chứng thu gi : 01 ví da màu đen bên trong chứa 01 bịch nhựa màu trắng hàn kín, bên trong bịch nhựa có chứa tinh thể màu trắng (niêm phong); 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda màu đỏ đen biển số 86B2-47…;

Tại bản kết luận giám định số 1196/KLGĐ- PC09 ngày 14/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BTh, kết luận:

- Mẫu M được niêm phong còn nguyên vẹn, trong phong bì có khối lượng 0,1226gram là Methamphetamine, gởi hoàn lại sau giám định gói M được niêm phong có khối lượng còn lại 0,0571 gram Methamphetamine trong phong bì số 1196.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS.HBB ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BB truy tố bị cáo Quang Minh Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB sau khi luận tội, giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Quang Minh Th theo tội danh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (thành khẩn khai báo); Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt Quang Minh Th từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Không;

Về xử lý tang, vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín được niêm phong trong phong bì ký hiệu 1196, bên trong có 0,0571 gram Methamphetamine và 01 cái ví da màu đen có chữ Versace (đã được chuyển kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện BB ngày 30/5/2023) là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen trắng, biển số 86B2-47… của Quang Huy H, Th lấy đi H không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại anh H là ph hợp với quy định pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Quang Minh Th thừa nhận tội tàng trữ trái phép chất ma túy và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện BB, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BB trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Quang Minh Th và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng pháp luật.

Xét về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo Quang Minh Th khai nhận hành vi phạm tội ph hợp biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ (BL 20), biên bản xác nhận tang vật (BL 19), biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 52), biên bản mở niêm phong giao nhận đối tượng giám định (Bút lục 41), kết luận giám định số 1196/KLGĐ-PC09 ngày 14/11/2022 (Bút lục 42), kết luận điều tra số 35/KLĐT ngày 04/4/2023 (Bút lục 76-77) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 07/11/2022, Quang Minh Th đã có hành vi cất giấu 0,1226 gram Methamphetamine trong ví b c trong người mục đích sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét về tính chất, nhận thức, động cơ của hành vi phạm tội: Bị cáo Quang Minh Th nhận thức được chất Methamphetamine là chất ma túy rất nguy hại đến sức khỏe và tinh thần cho con người nếu sử dụng. Nhà nước độc quyền quản lý, kiểm soát, cấm tàng trữ trái phép dưới bất cứ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi cất giấu chất ma túy chỉ vì mục đích muốn có ma túy để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tr ng lượng 0,1226g Methamphetamine bị cáo cất giấu.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Quang Minh Th không có tình tiết tăng nặng nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Quang Minh Th thành khẩn khai báo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo khi lượng hình.Đối với nhân thân bị cáo mặc d chưa có tiền án, tiền sự nhưng bản thân bị cáo thừa nhận đã sử dụng ma túy nên bị cáo không được xem xét nhân thân tốt quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về áp dụng điều luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý tang, vật chứng vụ án: 01 (Một) bịch nhựa trắng được hàn kín niêm phong trong phong bì ký hiệu 1196, bên trong chứa 0,0571 gram Methamphetamine là vật cấm lưu hành; 01 (Một) bóp da màu đen có ghi chữ Versace không còn giá trị nên cần tịch, thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Án phí: Bị cáo Quang Minh Th phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố: Bị cáo Quang Minh Th phạm tội “Tàng trữ trái phépchất ma túy”

2.Xử phạt: Bị cáo Quang Minh Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn t tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2022.

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bịch nhựa trắng được hàn kín niêm phong trong phong bì ký hiệu 1196 bên trong chứa 0,0571 gram Methamphetamine và 01 (Một) bóp da màu đen có ghi chữ Versace. (Các vật chứng đã được chuyển kho vật chứng của chi cục thi hành án dân sự huyện BB theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện BB)

4.Về án phí: Bị cáo Quang Minh Th phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5Về quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2023).

Cỡ chữ