- Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHSPT Nguyễn Minh Tâm tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS-PT Ngày: 22/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ký
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương
Ông Dương Lê Bửu Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 370/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo N.M.T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 407/2022/HSST ngày 15/9/2022, của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.
Bị cáo bị kháng nghị:
N.M.T, sinh năm 2001 tại K; Nơi cư trú: Số xxx, tổ xx, khu phố x, thị trấn G, huyện G, tỉnh K; Nơi cứ trú: Hẻm xx, H.H.T, phường T, thành phố V, tỉnh B.R-V.T; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N.P.K (không rõ năm sinh) và bà N.T.D, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 25/3/2022 - Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
N.M.T và P.V.H, sinh năm 2000; ngụ tại xã V, thị xã N, tỉnh S đều là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 15 giờ ngày 24/3/2022, T đến quán bò bít tết “O” tại khu phố x, phường T, thành phố B thì gặp H. T mượn xe mô tô Yamaha biển số 8xP1-xxx.xx của H để đi đến khu vực Công viên X thuộc phường T, thành phố B mua của đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 2.000.000đ để sử dụng và quay lại quán gặp H (H không biết T mượn xe đi mua ma tuý). Sau đó, T nói cho H biết là T có mua ma tuý và rủ H cùng sử dụng ma tuý, H đồng ý. T lấy một phần ma tuý ra cùng H sử dụng ma tuý tại nhà vệ sinh của quán “O”. Phần ma tuý còn lại T cất giấu vào trong giỏ xách của T.
Đến khoảng 00 giờ 55 phút ngày 25/3/2022, T cất giấu gói ma tuý trên trong giỏ xách màu đen T đeo trên người và điều khiển xe mô tô biển số 8xP1-xxx.xx chở H ngồi sau đi đến hẻm 468, đường Đ, khu phố X, phường T, thành phố B, tỉnh Đ thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, N.M.T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại kết luận giám định số: 614/KLGĐ-PC09 ngày 31/3/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 3,0184gam, loại: Methamphetamine”.
Đối với đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho N.M.T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với P.V.H cho N.M.T mượn xe mô tô biển số 8xP1-xxx.xx nhưng không biết T sử dụng xe đi mua ma túy nên không truy tố trách nhiệm hình sự đối với H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, H còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, UBND phường T, thành phố B đã xử phạt hành chính.
Đối với N.M.T có hành vi rủ P.V.H sử dụng ma túy. Cả T và H đều là người sử dụng trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 407/2022/HSST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; Điều 47; Điều 48, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo N.M.T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2022;
Ngoài ra bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Tại quyết định số 344/QĐ-VKS-P7 ngày 10/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tại phiên tòa: Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N.M.T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo T là người sử dụng số tiền 2.000.000đ để mua ma túy sau đó rủ H cùng sử dụng. Tại Mục I.1 Công văn số 89/TANDTC - PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ…”. Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự. T có hành vi cung cấp ma túy cho H sử dụng có dấu hiệu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm hình sự là có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội. Đối với P.V.H là người biết rõ T cất giấu ma túy trên trong giỏ xách màu đen T đeo trên người, đồng ý dùng xe mô tô của mình đưa Hoài về phòng trọ ở B.R-V.T nhưng cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm hình sự là có dấu hiệu bỏ lọt tội. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đ chấp nhận kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ban hành đúng thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có tại hồ sơ và tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện, bị cáo N.M.T có hành vi cung cấp ma túy cho P.V.H cùng sử dụng tại nhà vệ sinh quán “O”. P.V.H biết rõ số ma túy sử dụng còn lại bị cáo T mang cất giấu trong giỏ xách đeo trên người nhưng vẫn đồng ý chở T về phòng trọ tại tỉnh B.R-V.T. Khi T và H đi đến khu phố X, phường T, thành phố B thì bị công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định. Tuy nhiên, bị cáo T vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vừa là người cung cấp ma túy cho H sử dụng; đối với H biết rõ T cất giấu ma túy nhưng đồng ý sử dụng xe mô tô chở H về B.R-V.T là có dấu hiệu đồng phạm giúp sức cho T tàng trữ ma túy. Cấp sơ thẩm chỉ xét xử bị cáo N.M.T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và bỏ lọt hành vi phạm tội, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ kháng nghị như nội dung nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố B điều tra lại theo quy định của pháp luật.
[3] Quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm e khoản 1 khoản 2 Điều 355, điểm b, c Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 407/2022/HSST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.
2. Tiếp tục tạm giam bị cáo N.M.T cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ thụ lý lại hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo N.M.T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. B; - Viện kiểm sát nhân dân TP. B (Kèm hồ sơ vụ án); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. B; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP. B; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đ; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. B; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Trung Hưng Vũ Thế Phương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ký THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |