- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7 - 2023 V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hà.
2. Ông Phạm Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lâm Đa Cha, Kiểm sát viên.
Ngày 28/7/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H1, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Lê M, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H1, xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của đương sự, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Lê M tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Tuy Phong theo giấy chứng nhận kết hôn số 226 quyển số 02 ngày 24/12/2015. Thời gian đầu vợ chồng còn hạnh phúc, đến năm 2020 thì bà H và ông M thường xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do ông M nghiện Heroin, mỗi khi bà H không đưa tiền để ông M mua ma túy sử dụng thì bị ông M đánh. Bà H nhiều lần khuyên ông M bỏ ma túy, lo làm ăn nhưng ông M chỉ hứa hẹn mà không bỏ. Tuy sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H có đơn yêu cầu ly hôn ông M. Ngày 05/7/2023, bà H có đơn xin vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
+ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H ly hôn ông Lê M.
+ Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông M có 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 sinh ngày 12/4/2014, Lê Nguyễn Ái V sinh ngày 07/01/2017, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng cho con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông M từ chối nhận và không có mặt tại tòa để trình bày ý kiến.
Ngày 07/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành xác minh tại thôn H1, xã C, huyện Tuy Phong, kết quả như sau: Ông Lê M có đăng ký hộ khẩu và hiện có mặt tại địa phương. Về tình trạng hôn nhân: Khoảng năm 2020 thì vợ chồng bà H ông M thường xảy ra cãi nhau do ông M nghiện ma túy, không lo làm ăn, bà H nói thì bị ông M đánh từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt nên bà H mới làm đơn ly hôn ông M. Bà H và ông M có 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 và Lê Nguyễn Ái V hiện đang ở với bà H.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:
Về việc tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Có 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 sinh ngày 12/4/2014, Lê Nguyễn Ái V sinh ngày 07/01/2017, đề nghị giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Lê M và tranh chấp nuôi con chung do đó Tòa án thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Lê M tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của nguyên đơn và biên bản xác minh tại địa phương thì bà H và ông M thường xuyên cãi nhau do ông M nghiện Heroin, bà H nhiều lần khuyên nhưng ông M không bỏ ma túy để lo cho gia đình, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu ly hôn ông M. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông M đến giải quyết nhưng ông không chấp hành, điều này chứng tỏ ông M không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Như vậy tình trạng hôn nhân của bà H và ông M đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Có 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 sinh ngày 12/4/2014, Lê Nguyễn Ái V sinh ngày 07/01/2017, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Theo biên bản xác minh tại địa phương thì hiện nay 02 con chung đang ở với bà H, ông M không đến tòa để trình bày ý kiến, 02 con chung cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên giao 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 và Lê Nguyễn Ái V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn ông Lê M.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Nguyễn Ái M1 sinh ngày 12/4/2014, Lê Nguyễn Ái V sinh ngày 07/01/2017 cho bà Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lê M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016950 ngày 17/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. Bà Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Tuy Phong; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - UBND xã C, huyện Tuy Phong (CNKH số 226 quyển số 02 ngày 24/12/2015); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng V |