vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Kim H ly hôn với ông Huỳnh Thái P.

Về con chung: Giao Huỳnh Phương A (giới tính nữ), sinh ngày 26/3/2011 cho bà Nguyễn Kim H chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Huỳnh Phương A đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Giao Huỳnh Thái T (giới tính nam), sinh ngày 19/10/2007 cho ông Huỳnh Thái P chịu trách nhiệm tr…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Kim H ly hôn với ông Huỳnh Thái P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 3 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Sim.

2. Ông Nguyễn Phúc Nghiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 11 năm 2022, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1988 (có mặt).

Nơi cư trú: Khóm D, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thái P, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm D, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2022 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim H trình bày:

Về hôn nhân, vào năm 2007 bà và ông Huỳnh Thái P chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh C. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Thái P. Về con chung có 02 người tên là Huỳnh Thái T (giới tính nam), sinh ngày 19/10/2007 và Huỳnh Phương A (giới tính nữ), sinh ngày 26/3/2011. Hiện tại cả hai người con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Huỳnh Phương A, giao Huỳnh Thái T cho ông Huỳnh Thái P nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Huỳnh Thái P đã được triệp tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ.

Đại diện chính quyền địa phương thị trấn C, huyện P, tỉnh C xác định: Bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P không có yêu cầu hòa giải nên chính quyền địa phương không xác định được tình trạng mâu thuẫn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà Nguyễn Kim H ly hôn với ông Huỳnh Thái P. Giao con chung tên là Huỳnh Phương A (giới tính nữ), sinh ngày 26/3/2011 cho bà Nguyễn Kim H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao Huỳnh Thái T (giới tính nam), sinh ngày 19/10/2007 cho ông Huỳnh Thái P nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, đồng thời không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Kim H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Huỳnh Thái P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Thái P vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2]. Xét về hôn nhân: Bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung thời gian đầu cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, dần về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Nguyễn Kim H yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Thái P. Ông Huỳnh Thái P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ cho Tòa án xem xét, cho thấy ông Huỳnh Thái P không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P đã và đang trầm trọng, bà Nguyễn Kim H cương quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, việc bà Nguyễn Kim H yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Thái P là có căn cứ để chấp nhận.

[3]. Về con chung: Có 02 người tên là Huỳnh Thái T (giới tính nam), sinh ngày 19/10/2007 và Huỳnh Phương A (giới tính nữ), sinh ngày 26/3/2011. Hiện tại do bà Nguyễn Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Kim H yêu cầu tiếp tục nuôi Huỳnh Phương A, giao Huỳnh Thái T cho ông Huỳnh Thái P nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng. Xét thấy Huỳnh Phương A có nguyện vọng chung sống cùng với mẹ là bà Nguyễn Kim H và Huỳnh Thái T có nguyện vọng chung sống cùng với cha là ông Huỳnh Thái P. Do đó việc giao Huỳnh Phương A cho bà Nguyễn Kim H trực tiếp nuôi dưỡng và giao Huỳnh Thái T cho ông Huỳnh Thái P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Kim H về việc không yêu cầu ông Huỳnh Thái P cấp dưỡng nuôi con. Ông Huỳnh Thái P không có ý kiến gì đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Kim H xác định không có, đồng thời không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Kim H phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 cùng của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Kim H ly hôn với ông Huỳnh Thái P.

2. Về con chung: Giao Huỳnh Phương A (giới tính nữ), sinh ngày 26/3/2011 cho bà Nguyễn Kim H chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Huỳnh Phương A đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Giao Huỳnh Thái T (giới tính nam), sinh ngày 19/10/2007 cho ông Huỳnh Thái P chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng dưỡng cho đến khi Huỳnh Thái T đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống.

Bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Kim H và ông Huỳnh Thái P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Kim H đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018404, ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Kim H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Thái Phong được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ