vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H về việc “tranh chấp ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc A. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 08/11/2008 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho anh Nguyễn Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Phạm Thị Kim H cấp dưỡng nuôi con hàng thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H về việc “tranh chấp ly hôn”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH-TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thị Thu Hiền

Ông Trương Công Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 994/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc A, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Nhà trọ C tổ M, ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quốc A kết hôn vào năm 2011, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ cH chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ cH không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ cH đã trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Quốc A có 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 08/11/2008 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 14/5/2012. Ly hôn, chị yêu cầu giao 02 con chung cho anh Nguyễn Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Quốc A vắng mặt nên không có ý kiến.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định pháp luật. Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống Đ văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 08/11/2008 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho anh Nguyễn Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống Đ hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Nguyễn Quốc A, nhưng anh A vẫn vắng mặt không lý do, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim H và anh Nguyễn Quốc A kết hôn vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 25/4/2011, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị H trình bày, sau khi kết hôn, vợ cH chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ cH không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ cH đã trầm trọng nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Tam An thể hiện trong quá trình chung sống giữa chị H và anh A có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được. Tuy nhiên, xét các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ cH chị Phạm Thị Kim H và anh Nguyễn Quốc A là có thật. Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện cho chị H và anh A hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng chị H vẫn cương quyết xin ly hôn còn anh A vắng mặt không lý do, cho thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, anh A có thái độ bỏ mặc, không mong muốn hàn gắn tình cảm và mối quan hệ hôn nhân với chị H. Xét thấy mục đích hôn nhân không Đ được, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Về con chung: Chị H và anh A có 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 08/11/2008 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 14/5/2012. Theo nội D đơn khởi kiện, chị H yêu cầu giao 02 con chung cho anh Nguyễn Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng mỗi con chung 1.000.000 đồng/ tháng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống Đ thông báo thụ lý và giấy triệu tập làm việc đối với anh A để anh A có ý kiến về nội D khởi kiện của chị H, trong đó có vấn đề về con chung, tuy nhiên anh A không đến tòa làm việc và không có ý kiến, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai và các chứng cứ do chị H cung cấp cũng như các chứng cứ do tòa án thu thập để xem xét, giải quyết.

Xét thấy, tại bản tự khai, cháu Nguyễn Thị Thùy D và Nguyễn Quốc Đ trình bày hiện các cháu đang sống cùng với anh Nguyễn Quốc A và các cháu đều có nguyện vọng muốn sống cùng với anh A. Do đó, giao 02 con chung cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần của các cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh Nguyễn Quốc A vắng mặt không có ý kiến, chị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị H trình bày tài sản chung chị và anh A tự thỏa thuận, giữa chị và anh A không có không có nợ chung. Anh A vắng mặt và không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung bằng vụ án khác khi có tranh chấp.

Về án phí: Chị Phạm Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim H về việc “tranh chấp ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Quốc A.

Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 08/11/2008 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho anh Nguyễn Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Phạm Thị Kim H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng 2.000.000 (hai triệu) đồng/ tháng (mỗi con chung 1.000.000 (một triệu) đồng/ tháng).

Chị Phạm Thị Kim H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Kim H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp tại biên lai thu số 0006598 ngày 30/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị H còn phải nộp thêm số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Chị Phạm Thị Kim H và anh Nguyễn Quốc A được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ